Không có ảnh

Thủy pháp _ Tiêu vong thủy

Tháng Mười 27, 2022 Phạm Hồng Tiến 0

PHƯƠNG VỊ TIÊN HẬU THIÊN BÁT QUÁI Phương vị Đông Nam Tây Bắc Đông Nam Đông Bắc Tây Nam Tây Bắc Tiên thiên Ly Càn Khảm Khôn Đoài Chấn Tốn Cấn Hậu thiên Chấn Ly Đoài Khảm Tốn Cấn Khôn Càn 1. VONG THUỶ TIÊU THỦY. Nghĩa là thuỷ đến tại Hậu thiên, thuỷ đi tại Tiên thiên, gọi là “Hậu thiên phá Tiên thiên”. Hay nói dễ hiểu hơn, là nước đến cung vào Hậu thiên, mà ra cung đó Tiên thiên là phạm, cụ thể: Nước Càn (Tây Bắc) chảy đi tại Ly (Nam), Nước Khôn (Tây Nam) chảy đi tại Khảm (Bắc), Nước Ly (Nam) chảy đi tại Chấn (Đông), Nước Khảm (Bắc) chảy đi tại Đoài (Tây), Nước Đoài (Tây) chảy đi tại Tốn (Đông Nam), Nước Chấn (Đông) chảy đi tại Cấn (Đông Bắc), Nước Tốn (ĐôngNam) chảy đi tại Khôn (Tây Nam), Nước Cấn (Đông Bắc) chảy đi tại Càn (Tây Bắc) Phàm là Tiên thiên chảy phá Hậu thiên đều gọi là “tiêu”, Hậu thiên chảy phá Tiên thiên gọi là “vong”, nếu phương vị Tiên Hậu thiên chảy phá lẫn nhau gọi là nước “tiêu vong bại tuyệt”. Nếu gặp nước tiêu vong lại kiêm long huyệt không tốt, nhân khẩu và tiền tài gia chủ đều bại. Trong hình vòng trong là Tiên thiên bát quái (nhìn từ ngoài vào trong), vòng giữa là Hậu thiên bát quái, vòng ngoài là 24 sơn. Tiên Hậu thiên bát quái trong La bàn Chuyên gia Phong thủy Tiên Hậu thiên bát quái đều dùng vào việc xác định cát hung thuỷ pháp, nhưng khi ứng dụng cần phải phối hợp sử dụng cả hai. Đầu tiên phải nắm được nước Tiên thiên quản nhân đinh, nước ở Hậu thiên quản thê tài. Cần nhớ, khi ứng dụng, nước đến Tiên thiên bát quái không được chảy vào Hậu thiên, nước đến Tiên thiên bát quái chảy vào Hậu thiên là “Tiên thiên phá Hậu thiên”, gọi là “tiêu thuỷ”, Nếu phạm phải chủ về khắc thê tổn tài, sự nghiệp gia đình dần suy yếu lụn bại. Nước đến Hậu thiên bát quái chảy về Tiên thiên, là “Hậu thiên phá Tiên thiên”, gọi là “vong thuỷ”, nếu phạm phải chủ về nhân đinh tuyệt. Bất kể là âm trạch hay dương trạch, gặp phải trường họp nước Tiên thiên phá Hậu thiên hoặc nước Hậu thiên phá Tiên thiên, gọi là “tiêu vong bại tuyệt thuỷ”, phạm phải chủ đinh tài đều bại, thậm chí đời sau tuyệt tự. Ví dụ, Nhà bạn toạ Bắc hướng Nam Khảm trạch, đầu tiên phải biết quẻ Khảm Tiên thiên ở Đoài vị, Hậu thiên ở Khôn vị, Nếu hướng Đoài có nước chảy về Khôn vị, gọi là Tiên thiên chảy phá Hậu thiên, tức “tiêu thuỷ”, nếu hướng Khôn có nước chảy về hướng Đoài là “vong thuỷ”, thấy nước ở hướng Đoài hoặc hướng Khôn chảy phá lẫn nhau, gọi là nước “tiêu vong bại tuyệt”, phạm phải chủ về phụ nữ bị tai nạn mất máu, chảy phá Hậu thiên chủ về nhiều bệnh, chảy phá Tiên thiên chủ tổn hại nhân khẩu, những chuyện xấu này phần lớn không có lợi cho chi trưởng. Hoặc ví dụ ở trong căn nhà là Đoài trạch, Dậu sơn Mão hướng, toạ Tây hướng Đông, phải biết quẻ Đoài Tiên thiên ở Tốn vị, Hậu thiên ở Khảm, nếu hướng Tốn nước đến, chảy qua trước nhà chảy vào Khảm vị, gọi là Tiên thiên chảy phá Hậu thiên, nước này gọi là “tiêu”. Hoặc hướng Khảm nước đến chảy qua trước nhà chảy vào Tốn vị, gọi là Hậu thiên chảy phá Tiên thiên, là “vong”. Gặp Tiên thiên phá vỡ Hậu thiên, và Hậu thiên phá vỡ Tiên thiên, đều gọi chung là “tiêu vong bại tuyệt thuỷ”. Người xưa có bài ca rằng: “Lưu phá Tiên thiên nhân đinh hại, lưu phá Hậu thiên đoạn tư tài, tái kiến thiên kiếp lai xung phá, gia nhân đa bệnh bất ly tai”, Trong đó, sợ nhất là tiêu vong bại tuyệt lại gặp phương Thiên kiếp nước đến phá vỡ, phạm phải đã tệ càng tệ thêm, việc xấu thi nhau xảy đến. Mỗi khi đến một nơi, đầu tiên phải xem có phạm tiêu vong bại tuyệt thuỷ hay không, nếu phạm phải mau chóng bảo chủ nhà nên làm thế nào để đề phòng, sau đó mới tiến hành bước tiếp theo. Đối với nhà nghiên cứu phong thuỷ, trong khảo sát thực địa cần phải ghi nhớ thuộc lòng vị trí cụ thể của Tiên thiên bát quái và Hậu thiên bát quái, sau đó xem nước đến và đi, rồi mới tìm hiểu về phương vị cụ thể của nhà này, để có thể tiến hành tiếp công việc được. 2. NƯỚC THIÊN KIẾP, ĐỊA HÌNH Bản chất về vị trí Thiên kiếp, Địa hình Vị trí Thiên kiếp Địa hình bắt buộc phải ở hai bên trái phải phía trước tọa sơn, có nghĩa là từ tọa sơn lùi ra hai bên phía hướng, một cái bên trái một cái bên phải, có thể hình dung như hai trạm gác tiền tiêu hai bên. Cách tính toán cụ thể là, xem tọa sơn thuộc quẻ gì, sau đó xem Hậu thiên bát quái thuộc quẻ gì Tiên thiên, xem tiếp vị trí Hậu thiên quẻ này ra vị trí Thiên kiếp. Càn Khảm cấn Đoài là quẻ dương, Thiên kiếp ở bên trái, Địa hình ở bên phải. Chấn Tốn Khôn Ly thuộc âm, Thiên kiếp bên phải, Địa hình bên trái. Cụ thể: Nhà tọa Càn (Tuất Càn Hợi), Càn Hậu thiên ở cấn, Cấn Hậu thiên ở Chấn Tiên thiên, nên tọa Càn có Chấn (Giáp Mão Ất) là vị trí Thiên kiếp. Chấn ở bên trái phía trước trạch Càn, bên phải sẽ là Ly nên Ly (Bính Ngọ Đinh) là Địa hình. Nhà tọa Khảm (Nhâm Tý Quý), Khảm Hậu thiên ở Khôn, Khôn Hậu thiên ở Tốn Tiên thiên, nên tọa Khảm có Tốn (Thìn Tốn Tỵ) là vị trí Thiên kiếp. Tốn ở bên trái phía trước trạch Khảm, bên phải sẽ là Khôn nên Khôn (Mùi Khôn Thân) là Địa hình. Nhà tọa Cấn, cấn Hậu thiên ở Chấn, Chấn Hậu thiên ở Ly Tiên thiên, nên tọa Cân có Ly (Bính Ngọ Đinh) là vị trí Thiên kiếp. […]

Không có ảnh

CHƯƠNG 24: CÁCH HÓA GIẢI

Tháng Mười 26, 2022 Phạm Hồng Tiến 0

I.      Phương vị nên tránh. 1.        Năm nhà gặp tam sát 2.        Phương thái tuế, phương tuế phá. 3.        Tuế hợp với can. 4.        Phương lục hợp. 5.        Cửu tinh phân bố trên cửu cung theo năm tháng. II.     Dưỡng sinh và phóng sinh. III.   Giải hạn bằng thuốc. IV.          Đề cương phối thang theo mệnh. V.     Hành thiện tích đức, tín ngưỡng tôn giáo. VI.          Xếp loại những biểu hiện năm hạn của tứ trụ. 1.      Vận dụng thần bị khắc, lại gặp năm kị thần vượng. 2.       Tuế vận cùng gặp thì kị nhất là gặp kình dương, thất sát. 3.       Đại vận xung đề cương, cộng thêm năm, hay tháng, hay ngày, hay giờ của Tứ trụ gặp xung. 4.       Năm thiên khắc địa xung, 5.       Năm bản mệnh, 6.       Trụ ngày xung khắc lưu niên, 7.       Mệnh ngũ hành thiên khô. 8.       Năm gặp 3 xung 1, hoặc 1 xung 3, 9.       Một hành nào đó của Tứ trụ vượng, gặp ngũ hành xung khắc. 10.     Những năm giao nhau của hai vận. 11.     Năm hay vận nhật can nhập mộ hoặc mộ bị xung khai 12.     Năm hay vận có hung thần ác sát, vong thần, bạch hổ trùng điệp  13.     Năm kề trước hoặc sau năm hung, 14.     Đại vận không tốt. 15.     Đại vận, lưu niên đều tốt nhưng vẫn bị tử vong. 1.        Bàn về phản ngâm, phục ngâm.. 2.        Bàn về thiên can, địa chi VII.         Chọn ngày tốt để dâng hương, phóng sinh hoặc làm công trình công đức  VIII.       Những điều cần chú ý đối với người đi hóa giải      I.         Phương vị nên tránh Kinh dịch viết: “Ngẩng lên xem trời, cúi xuống xem đất”, “gần là bản thân, xa là mọi vật”, điều đó nói lên sự quan trọng của thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Gia Cát Lượng – Khổng Minh từng nói với Lưu Huyền Đức: “Tướng quân muốn thành bá nghiệp, tạm để cho Tào Tháo chiếm thiên thời, để cho Tôn Quyền chiếm địa lợi, còn tướng quân chiếm lấy nhân hoà… để thành thế chân vạc”. Có nghĩa là khi người ta chiếm được một trong ba điều: thiên thời, địa lợi, nhân hoà thì có thể thành bá nghiệp. Thực ra thì cả ba không thể thiếu một điều nào, cho nên trước đó Gia Cát Lượng từng nói: ‘Tướng quân dòng dõi Đế thất, tín nghĩa nổi tiếng bốn phương, là bậc anh hùng cái thế, đó là nhân hoà”. “Trước lấy Kinh Châu làm nhà, sau lấy Tây Xuyên làm,nền tảng để xây dựng sự nghiệp”, đó là địa lợi; “Chờ cho thiên hạ có biến, lệnh một tướng đem quân Kinh Châu đi lấy Uyển Lạc, còn tướng quân đích thân dẫn dân chúng ích Châu ra lấy Tần Xuyên, chắc chắn dân chúng sẽ nghênh đón tướng quân”, đó là thiên thời, sở dĩ Lượng nói chỉ cần được một trong ba điều, đó là nói đối với người quyền biến, trước hết nên nghiêng về trọng điểm mà thôi. Cách nhìn đối với mệnh vận, có người mang thái độ rất bi quan. Họ cho rằng tất cả là do mệnh vận định đoạt, mọi cố gắng phấn đấu của con người chỉ uổng công, vô ích. Có người lại hoàn toàn phủ định. Họ cho rằng chỉ cần cố gắng phấn đấu thì sẽ đạt được mục đích. Những quan niệm như thế đều là cực đoan và khó tránh khỏi lệch lạc. Có người cho rằng tuy không thể thay đổi được hạt nhân của mệnh vận, ví dụ bạn là mệnh thường dân thì đừng nên mơ đến hoàng đế. Quan niệm đó phù hợp với lẽ tự nhiên, nên có thể chấp nhận được. Song chỉ đơn thuần dựa vào mệnh vận của tứ trụ, có lúc rất khó mà định đoạt được một cách sát thực. Thực tế cuộc sống chứng tỏ: cùng những Tứ trụ có đầy đủ cách cục tài quan ấn, nhưng sự chênh lệch về giàu sang rất lớn. Có người đã là quan đầu tỉnh, cũng có người chỉ mới là cán bộ huyện; có người là tỷ phú mà có người cũng chỉ mới tạm gọi là đủ ăn. Nếu xếp loại theo trọng điểm thì năm, tháng, ngày, giờ sinh thuộc về tiên thiên; đại vận, lưu niên, chọn tốt tháng, ngày, giờ v.v. nên là hậu thiên, đều thuộc phạm trù thiên thời. Phần mộ, gia trạch, phòng ở, vị trí giường nằm, nơi công tác, phương vị đi đến đều thuộc phạm trù địa lợi. Nhân hoà chỉ là tư duy, hành vi thuận theo quy luật tự nhiên. Tất cả những điều trên đây chỉ mới cấu tạo thành bản chất mệnh vận. Sự chênh lệch về giàu sang, nghèo hèn, họa phúc mà tứ trụ biểu thị mới chỉ là một phần của hạt nhân mệnh vận. Những nhân tố như phần mộ, gia trạch, gen di truyền, v.v. tạo nên thai nhi. Nếu giữa chừng người mẹ mang thai dọn đến ở một căn nhà xấu thì cũng đủ cho sẩy thai. Một cái mầm tốt mà hậu thiên không được bồi đắp đầy đủ cũng sẽ bị héo khô. Phàm là người đại đức, đại thành, tất phải là người tiên nhiên dồi dào, thuần khiết, hậu thiên tu dưỡng công phu, mộ phần, gia trạch đều tốt đẹp. Nếu mộ phần, gia trạch xấu, lại không chú ý tu dưỡng bản thân thì cho dù mệnh tốt đến đâu cũng khó mà tránh được tai ác. Mệnh không xung khắc thiên thời, hành vi không trái với địa lợi, nhân hoà thì chắc chắn sẽ tốt. Chúng ta vừa không phủ định sự tồn tại của mệnh vận, nhưng cũng rất coi trọng sự bổ cứu của hậu thiên. Còn có gì có thể vượt qua được trời đất? Cho nên phương vị nên tránh đã trở thành yếu tố quan trọng trong các biện pháp hoá giải tai ách. Nói chung các nhà mệnh học đều biết: phương vị nên tránh hay nên đến không nằm ngoài quy tắc tránh phương kị thần, đi theo phương hỉ, dụng thần. Nhưng lấy gì làm tiêu chuẩn để xác định? Có người nói nên lấy quê hương tổ tiên làm gốc, có người lấy chỗ sinh của người cha làm gốc, v.v… Theo tôi có lẽ đều […]

Không có ảnh

Bát trạch

Tháng Mười 25, 2022 Phạm Hồng Tiến 0

Bát mệnh – 8 loại chủ nhà Cơ sở: Dựa trên âm dương, ngũ hành, bát quái,… Chia con người thành 8 loại “mệnh”, chia nhà thành 8 loại “trạch”, rồi xem xét mối quan hệ tốt / xấu này. “ Tám loại mệnh: Đông tứ mệnh, Tây tứ mệnh -Tám loại nhà: Đông tứ trạch, Tây tứ trạch Bát mệnh – 8 loại chủ nhà Mệnh lý trong Bát trạch, có cơ sở từ tam nguyên cửu vận, lục thập hoa giáp. Ở đây không nhắc đến bài vè, mà hướng dẫn cách tính cụ thể: Trước năm 2000: Mệnh nam = (100-2 số cuối năm sinh) chia 9, số dư là quái mệnh. Mệnh nữ = (2 số cuối năm sinh + 5) chia 9, số dư là quái mệnh. Lưu ý: Mệnh nam gặp 5, dùng 2 thay thế; mệnh nữ gặp 5 dùng 8 thay thế. Chia hết cho 9, lấy số 9 (quẻ Ly) Từ năm 2000: Mệnh nam = (99-2 số cuối năm sinh) chia 9, số dư là quái mệnh. Mệnh nữ = (2 số cuối năm sinh + 6) chia 9, số dư là quái mệnh. Mệnh Đông tứ 1 Khảm 3 Chấn 4 Tốn 9 Ly Mệnh Tây tứ 2 Khôn 8 Cấn 6 Càn 7 Đoài Năm Can chi Nam Nữ 1950 Canh Dần Khôn Khảm 1951 Tân Mão Tốn Khôn 1952 Nhâm Thìn Chấn Chấn 1953 Quý Tỵ Khôn Tốn 1954 Giáp Ngọ Khảm Cấn 1955 Ất Mùi Ly Càn 1956 Bính Thân Cấn Đoài 1957 Đinh Dậu Đoài Cấn 1958 Mậu Tuất Càn Ly 1959 Kỷ Hợi Khôn Khảm 1960 Canh Tý Tốn Khôn 1961 Tân Sửu Chấn Chấn 1962 Nhâm Dần Khôn Tốn 1963 Quý Mão Khảm Cấn 1964 Giáp Thìn Ly Càn 1965 Ất Tỵ Cấn Đoài 1966 Bính Ngọ Đoài Cấn 1967 Đinh Mùi Càn Ly 1968 Mậu Thân Khôn Khảm 1969 Kỷ Dậu Tốn Khôn 1970 Canh Tuất Chấn Chấn 1971 Tân Hợi Khôn Tốn 1972 Nhâm Tý Khảm Cấn 1973 Quý Sửu Ly Càn 1974 Giáp Dần Cấn Đoài 1975 Ất Mão Đoài Cấn 1976 Bính Thìn Càn Ly 1977 Đinh Tỵ Khôn Khảm 1978 Mậu Ngọ Tốn Khôn 1979 Kỷ Mùi Chấn Chấn 1980 Canh Thân Khôn Tốn 1981 Tân Dậu Khảm Cấn 1982 Nhâm Tuất Ly Càn 1983 Quý Hợi Cấn Đoài 1984 Giáp Tý Đoài Cấn 1985 Ất Sửu Càn Ly 1986 Bính Dần Khôn Khảm 1987 Đinh Mão Tốn Khôn 1988 Mậu Thìn Chấn Chấn 1989 Kỷ Tỵ Khôn Tốn bát trạch – 8 loại nhà ở Có 8 loại nhà, chia thành Đông tứ trạch và Tây tứ trạch Phối hợp trên nguyên lý: Đông tứ trạch “trung phối hợp”: trung nam / nữ, trưởng nam / nữ : thiếu Tây tứ trạch “lão thiếu phối hợp’ : nam / nữ, lão phụ (cha) / lão mẫu Cách gọi tên: Theo tọa: nguyên tắc “nhất vị nhị hướng” trong phong thủy, như nhà tọa Bắc hướng Nam- Khảm trạch Đông tứ trạch: Khảm, Ly, Chấn, Tốn -Tây tứ trạnh: Càn, Khôn, cấn, Đoài Theo trường phái Bát trạch: Người Đông tứ mệnh nên ở nhà Đông tứ trạch Người Tây tứ mệnh nên ở nhà Tây tứ trạch Đặc trưng các sao (cát hung) Sao tốt: Sinh khí (Tham lang, Mộc): chủ về nhân ái, có tài lộc, thăng quan, lợi cho đàn ông. Giúp con người có thêm sinh khí, tích cực hướng lên. Còn tượng trưng cho cát tường và thuận lợi. Diên niên (Vũ khúc, Kim): chủ về hòa thuận, lợi cho quan hệ xã giao, vợ chồng hòa thuận, hôn nhân dễ thành, nhiều phúc lộc. Thiên y (Cự môn, Thổ): chủ về sức khỏe, vượng tài, phát lộc, lợi cho phụ nữ. Tính cách khoan dung, nhường nhịn, dễ được quý nhân giúp đỡ. Phục vị (Tả phụ, Mộc): chủ về khoan dung nhân ái, nam giới coi trọng gia đình. Sao xấu: Tuyệt mệnh (Phá quân, Kim): chủ về xung đột, nhiều khó khăn, dễ tai nạn, lắm bệnh tật, con cái kém cỏi. Ngũ quỷ (Liêm trinh, Hỏa): chủ về nóng nảy, nhiều tai họa bất ngờ, tranh chấp kiện tụng, con cái khó dạy. Họa hại (Lộc tồn, Thổ): chủ về tổn thương, cơ thể suy yếu, dễ nản chí, cô độc nghèo khổ. Lục sát (Văn khúc, Thủy): chủ về thị phi, tâm lý rối loạn, luôn bất an, không tập trung vào công việc, tài vận đi xuống. Sao Sao Ngũ hành Cát hung Sinh khí Tham lang Mộc + Đại cát Diên niên Vũ khúc Kim + Đại cát Thiên y Cự môn Thổ + Thứ cát Phục vị Tả phụ Mộc – Tiểu cát Tuyệt mệnh Phá quân Kim – Đại hung Ngũ quỷ Liêm trinh Hỏa – Đại hung Họa hại Lộc tồn Thổ – Thứ hung Lục sát Văn khúc Thủy + Thứ hung Khẩu quyết: 3 hào không biến: Phục Vị Biến 3 hào: Diên Niên Biến thượng hào: Sinh Khí Biến 2 hào dưới: Thiên Y Biến 2 hào trên: Ngũ Quỷ Biến hào trên – dưới: Lục Sát Biến hào giữa: Tuyệt Mệnh Biến hào dưới: Họa Hại Bảng cát hung khi kết hợp mệnh/cung Cung/ Mệnh Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn Càn Phục vị Sinh khí Tuyệt mệnh Ngũ quỷ Họa hại Lục sát Thiên y Diên niên Đoài Sinh khí Phục vị Ngũ quỷ Tuyệt mệnh Lục sát Họa hại Diên niên Thiên y Ly Tuyệt mệnh Ngũ quỷ Phục vị Sinh khí Thiên y Diên niên Họa hại Lục sát Chấn Ngũ quỷ Tuyệt mệnh Sinh khí Phục vị Diên niên Thiên y Lục sát Họa hại Tốn Họa hại Lục sát Thiên y Diên niên Phục vị Sinh khí Tuyệt mệnh Ngũ quỷ . Khảm Lục sát Họa hại Diên niên Thiên y Sinh khí Phục vị Ngũ quỷ Tuyệt mệnh Khôn Diên niên Thiên y Lục sát Họa hại Ngũ quỷ Tuyệt mệnh Sinh khí Phục vị Cấn Thiên y Diên niên Họa hại Lục sát Tuyệt mệnh Ngũ quỷ Phục vị Sinh khí Đặt bếp: Đặt sinh khí: đinh tài đều bại, sảy thai, con ngu đần. Đặt thiên y: bệnh tật. Đặt diên niên: đoản thọ, hôn nhân khó thành. Đặt phục vị: tài vận đi xuống, khó khăn. Đặt tuyệt mệnh: có tài sản, trường thọ. Đặt lục sát: khỏe mạnh, hết tai ương. Đặt họa hại: bình an. Đặt […]

Không có ảnh

Quan Vận 2/2

Tháng Năm 24, 2022 Phạm Hồng Tiến 0

Trong trụ không có quan tinh thì khó mà làm quan. Vừa không có quan tinh lại không có tài tinh thì không thể làm quan. Quan tinh bị hợp là không làm quan hoặc làm nhưng thời gian ngắn. Quan ở mộ kho là không làm quan. Trong trụ thương quan gặp quan là vừa không có quan vừa không có của. Thương quan chưa thương tổn hết thì khó mà làm quan. Người mà thương quan nhiều thì khó mà làm quan, nếu có thì chức nhỏ. Trụ có quan có chức nhưng hành vận thương quan thì bị bãi miễn hoặc bỏ chức về. Thất sát có chế ngự là quân tử, không có chế ngự là tiểu nhân. Có quan mà không có ấn thì chỉ là tạm thời. Quan tinh sợ hình xung phá hại vì không có lợi. Quan vượng không nên gặp hai quan, gặp thì mất chức hoặc gặp xấu. Người mà quan tinh nhiều, không có quan sẽ có hại. Tham hợp vong quan là quan không vinh. Quan nhiều lại gặp tài địa thì đề phòng tai vạ vì chức quan. Quan sát hỗn tạp thì không có quan, nếu có là giặc. Ấn thụ sinh trụ tháng thì trụ năm, giờ kị tài tinh, nếu gặp tài vận thì nên xin rút lui chức, nếu không sẽ bị giáng chức. Mã yếu tài yếu, nên thôi chức để giữ mình. Quan, sát hỗn tạp, là loại người không sáng suốt, tiểu nhân, không nên cho làm quan. Quan, quý quá thịnh, gặp vận vượng địa sẽ đổ, hỏng. Ngày nhược gặp quan tinh thì thành đạt không lâu. Gặp phá quan thì nên từ chức, rút về. Thất sát tụ là quan không có lộc. Ấn gặp tài địa, không mất chức cũng nên rút lui thì tốt. Quan ở sát địa thì khó mà giữ được chức. Quan tinh gặp hình xung thì quý nhưng không bền. Tài tinh không có khí là sáng làm quan, chiều mất chức. Thân vượng gặp vượng địa, khi tài quan vượng sẽ tai vạ liên miên. Tứ trụ hưu tù là cả đời không làm quan. Tài quan ấn đều có, trong đó quan tinh rõ hoặc mờ nhưng bị thương tổn, tức vận lại gặp thương thì năm đó sẽ thôi quan, mất chức. Lộc mã bị trụ giờ khắc, trụ ngày phá thì trước sau gì cũng mất chức. Tứ trụ có quan tinh khi hành đến quan vận thì sẽ bị phá hại. Kình dương đóng ở quan thì sớm muộn sẽ bị hình phạt. Thương quan khi thương hết thì kị nhất lại gặp quan tinh, gặp là kẻ thù địch làm hại. Thương quan gặp quan, không mất chức cũng bị ốm. Quan vượng tài vượng, nhập mộ thì gặp điều xấu. Quan chính ngôi, ngang vai mạnh thì sự tranh chấp rất dữ dội. Quan lộc gặp thương, lục thân sẽ khỏi được tai họa nhưng mình gặp điều xấu.       Thương quan vượng không có tài, khi gặp quan là gặp tai họa. Tuế vận cùng với thân nhập mộ thì nay làm quan, ngày mai chết. Quan tinh gặp thương quan ở vượng địa thì lập tức mất chức. Trụ cùng tuế vận hợp thành cục làm thương tổn quan, nếu gặp là mất chức hoặc gặp tai vạ. Quan sát gặp mộ lại gặp thương thì làm quan gặp họa do báo ứng. Địa chi của tuế quân khắc hại nhật nguyên là bậc quan trung chính bị gặp hại. Ví dụ 1. Càn tạo. 1945.3.21.20h Sát                     Tỉ               Nhật nguyên          Quan Ất Dậu              Kỷ Mão      Kỷ Sửu                  Giáp Tuất Tháng 5 năm 1989, ông Trương giám đốc của một Công ty ở Quảng Châu nhờ đoán hậu vận. Tôi nói với ông ta: “Năm 1990 làm quan gặp hại, không mất quan cũng bị miễn chức”, về sau đúng như thế. Năm 90 đúng gặp năm thương quan ứng với câu: “Thương quan gặp quan, không bãi quan cũng mất chức”. “Quan tinh bị hợp thì làm quan không lâu Ví dụ 2. Càn tạo. 1940.4.2. 0h30, Mộc vượng Quan                 Tài              Nhật nguyên          Thương Canh Thìn         Kỷ Mão      Ất Hợi                   Bính Tý Tháng 3 năm 1990 có một ông Phó chủ tịch thành phố hỏi yề quan vận năm đó. Tôi xem xong Tứ trụ nói: “Năm nay nếu ông giữ được chức vụ của mình là giỏi lắm rồi, không có hy vọng thăng chức, hơn nữa còn bị một trận ốm”, về sau đúng là không thăng chức và còn bị ốm. Năm canh ngọ 1990 chính là “Thương quan gặp quan, không mất chức nhất định là Ốm nặng”. Ví dụ 3. Càn tạo. 30.10.1930. 12h Ấn                     Tài              Nhật nguyên          Quan Canh ngọ          Bính tuất     Quý sửu                 Mậu ngọ Năm 1989, có ông Cục trưởng nhờ tôi đoán vận. Tôi đoán xong, khuyên ông ta: “Tháng 12 năm 1989 ông nên bắt đầu nghỉ, năm 1990 chủ động rút về tuyến hai, cái gì cũng đừng nhận, nếu không gặp họa vì chức vụ”. Cuối cùng thì ra muốn ông ta rút lui không dễ. Kết quả ông không nghe lời khuyên, năm 1990 bị mất chức và phải thanh tra, chờ xử lý. Người này tuổi cầm tinh ngọ mã, năm 1990 lại là năm ngọ. Phàm người gặp năm mệnh thì dù là vua hay dân thường, nếu không phải mình thì người trong nhà đều gặp trắc trở. Trong trụ ông ấy hai ngọ, tiểu vận, lưu niên lại cũng gặp ngọ là bốn ngọ. Ngọ ngọ tự hình, tất có tai hoạ.  Ví dụ 4. Càn tạo. 26.4.1932. 4h Quan                 Ấn               Nhật nguyên           Quan Nhâm thân         Giáp thìn             Đinh tị            Nhâm dần Mấy năm gần đây, khá nhiều cán bộ để hiểu được quan vận của mình thường nhờ tôi dự đoán cho từ nay về sau. Năm 1988 có một vị sau khi được đoán, nói lại vói bạn học cũ của mình rằng: “Thầy Thiệu đoán rất chuẩn, anh cũng nên nhờ thầy đoán cho để nắm chắc tiền đồ của mình, như thế cũng có lợi”. Người bạn đó nói lại với anh ta “Anh thật là người ăn no không có việc làm, tin vào điều nhảm nhí ấy làm gì. Tôi đã làm giám đốc nhà máy mấy chục năm rồi còn không trụ được sao? Tự mình biết vận mệnh […]

Không có ảnh

Quan Vận 1/2

Tháng Năm 24, 2022 Phạm Hồng Tiến 0

Quan là vinh lộc, thiên chức là dân. Thanh quan là người quan thanh liêm trung thực, lưu danh sử sách, nếu mờ ám gian trá thì để tiếng xấu muôn đời. Tứ trụ của người ta chính là kho chứa đựng tin tức cả cuộc đời. Một người có quan vận hay không, chức to đến bao nhiêu, làm quan gì, trong bao lâu, là người thanh liêm hay mờ ám, là trung thực hay gian thần, khi nào thì thăng chức khi nào thì mất chức, trong Tứ trụ đều có những tiêu chí rõ ràng. Chỉ cần sắp xếp Tứ trụ ra, nắm vững những điều như trong sách này nói là có thể biết được. Lịch sử xưa nay, phàm những bậc đế vương dựng nghiệp, lưu danh tiếng thơm, biết thuật dùng người đều là những người nắm rất vững mệnh lý của Dịch học, đồng thời biết trọng dụng những người tinh thông Dịch học, dự đoán giỏi để làm quân sư, làm tham mưu cho quyết sách. Như Chu Văn Vương dùng Khương Tử Nha, Tần Thuỷ Hoàng dùng Lý Tư, Hán Cao Tổ dùng Trương Lương, Đường Thái Tông dùng Từ Mậu Công, Ngụy Nguy, Tông Thái Tôn dụng Miêu Quang Nghĩa, Minh Thái Tổ dùng Lưu Bá ôn, V. V.. Những người này đã từng được các đế vương ở thời kỳ thịnh vượng nhất của lịch sử Trung Hoa trọng dụng, và họ đã có những công lao to lớn trong việc phù vua lập nghiệp. Ngược lại, có những bậc đế vương hoặc hoàng tử kế vị vừa không hiểu Dịch học, vừa không biết mệnh lý, không có phương pháp trị quốc, chỉ dùng người thân, không quan tâm đến dân tộc, đến triều chính, mà chỉ thích tìm hoan lạc, kết quả dẫn đến nước nhà suy sụp, triều đình tan rã. Tứ trụ dự đoán học không những có thể dùng để chọn những người làm quan có phẩm chất tốt mà còn có thể đánh giá được tài trí của người đó. Đối với bản thân những viên quan đó mà nói, khi ra nắm quyền là kẻ sĩ, khi rút lui là kẻ ẩn, có thể phòng tránh được những tai hoạ của quan trường. I. DỰ ĐOÁN QUAN VẬN (1) Bốn kho: thìn, tuất, sửu, mùi đều có và thuận là mệnh của một bậc đế vương. Bốn xung: tí, ngọ, mão, dậu mà xung đúng lúc cũng là một mệnh của bậc đế vương. Trong trụ quý vượng xung quan lại gặp hợp là người quan cận thần phò vua. Trong trụ lộc mã phi thiên, hoặc xung quan hợp lộc mã là bậc quần thần cực quý. Thất sát có chế ngự, kình dương không bị xung là cực quý, là tướng, nắm quyền sinh sát. Bính hợp tân sinh là tướng nắm quyền, trấn thủ một phương. Quan sát rất nặng, thân lại mạnh, nếu gặp chế phục là bậc trung thần. Sát và kình dương đều lộ rõ lại ngang nhau là làm đến chức vương hầu. Thân mạnh gặp thất sát phục ấn là quan trấn thủ một vùng. Mộc thịnh gặp kim là bậc quan rường cột. Kiếp tài, kình dương lại còn có quan sát là bậc quan đài các. Kình dương, thiên quan có chế ngự là người nắm binh quyền. Mệnh gặp tam kì, có cả tam hợp nhập cục là lương thần của quốc gia. Thuần quan, thuần sát, thuần tài, thuần mã, thân không tạp là làm quan đến bậc cực phẩm. Củng quý, củng lộc là bậc tướng. Sát vượng, ấn yếu là xuất thân ở văn nhưng cuối cùng là võ tướng. Quan tinh lẫn với kình dương là quyền uy thống lĩnh các tướng. Thương quan có kình dương là bậc tướng có tài. Quan không có kình dương mà có ấn, không phải là quan cảnh sát thì cũng là quan trấn ải biên cương. Ấn, kình dương đều gặp làm quan ở chức cao. Thiên quan có chế ngự, có sinh là uy trấn biên cương. Trong trụ kim, thuỷ tương sinh cho nhau là quan cao trong triều. Quan ấn sinh tuế nguyệt là quan chức ở trong triều. Gặp lộc và được lộc hợp sẽ làm quan chức cao. Kim thần có ấn là quan trong nội các. Tướng tinh nếu gặp dụng thần, vong thần là bậc quan rường cột. Trụ tháng có thất sát, nhật nguyên mạnh là bậc tướng. Thất sát, kình dương đều rõ là uy lừng danh thiên hạ. Thất sát hóa quyền, làm quan võ thì công danh lừng lẫy, uy trấn biên cương thì công danh cái thế. Trong trụ ấn nhiều, tài lộ là tuổi đã 80 còn gặp Văn vương. Trong trụ có cả hoa cái và ấn tinh sẽ là bậc lương thần như Quản Trọng. Thực thần chế ngự sát thì vợ vinh hiển, con hiển đạt; trong trụ không có kiêu thần là bậc quan quản việc giáo dục trong triều. Kình dương nắm quyền là bậc tướng soái. Kình dương gặp quan sát là người cầm quyền trấn ải biên cương. Củng lộc, củng quý thuần tuý là bậc vương hầu. Quan quý nếu gặp tài quan trợ giúp, còn gặp tam kì thì làm đến tể tướng. Nguyệt lệnh là thất sát và thân sát đều mạnh là quan tể tướng. Trụ nhật có quan hoặc có quý hoặc có ấn mà không bị phá sẽ là bậc phúc thần trị thế. Thương quan gặp kiếp, kình dương là bậc làm tướng. Phúc đức gặp tài còn có quan ấn là sẽ ở chức vụ rất cao. Thương quan lẫn sát, kình dương, công danh đến chức tướng. Đức trợ cho thương quan là tay nắm binh quyền. Trụ có đủ tí, ngọ, mão, dậu là tài văn võ kinh bang tế thế. Kim thần cùng với kình dương ở hỏa địa là làm quan trong nội các. Thương quan rõ, chính quan ẩn, gặp nhiều sát, ấn thì quyền cao. Thực thần lẫn kình dương đóng ở quan là quan nhất phẩm. Quan tinh lẫn kình dương tất sẽ được phong quan. Trong trụ thuần sát lại có chế ngự là làm quan ở nhất phẩm. Quan tinh xen kẽ với thất sát, nếu hợp với thất sát là quý; quý tinh là thần của quý khí, nếu thuần khiết […]

Không có ảnh

Tính toán độ vượng suy tứ trụ

Tháng Tư 22, 2022 Phạm Hồng Tiến 0

CÁC BƯỚC TÍNH ĐỘ VƯỢNG SUY TỨ TRỤ TÍNH ĐỘ VƯỢNG CỦA THIÊN CAN Tra xem địa chi có tam hội 72, tam hợp 60, bán tam hợp 40, (hai chi kề nhau,) lục hợp 36, (hai chi kề nhau, bản khí chi tháng sinh phù, hoặc cùng loại) tranh hợp thì không hóa (mất tạp khí) lục xung (xung tan mất tạp khí). Nếu có hai chi kẹp xung một chi thì mỗi chi kẹp xung hao mất 1/3, chi bị kẹp xung hao mất 2/3. Không có dẫn hóa thì không thể hóa khi hành đến vận hoặc năm có đủ điều kiện dẫn hóa thì trong vận hoặc năm đó sẽ được thành hóa. Hợp mà không hóa gọi là khử bì. Tra xem thiên can đó có chỗ dựa không. Nếu có chỗ dựa thì lấy 36 độ để tính, nếu không có chỗ dựa thì được xem là hư phù, giảm đi 3/4 tức còn 9 độ. Tra xem thiên can đó có ngũ hợp không. (hóa thần phải nắm lệnh) (hai can hư phù không thành hóa) Nếu có ngũ hợp thì mỗi can bị giảm mất 1/6 tức mỗi can còn lại 30 độ. Nếu hợp mà không hóa (sẽ giải thích sau) thì vẫn giữ nguyên 36 độ. Nếu hợp mà thành hóa thì tính theo ngũ hành mà nó hóa thành. Tranh hợp thì không thành hóa được, cả ba can mỗi can tổn hao 1/3 tức mất 12 độ, chỉ còn lại 24 độ. Lại tra xem can đó có bị khắc hay không. Khắc gần thì bị giảm mất 1/3 tức là 12 độ, còn 24 độ. Khắc cách ngôi thì giảm mất, 1/6 tức còn 30 độ. Khắc xa thì không giảm. Khắc kẹp giữa thì can bị khắc giảm 2/3 tức giảm mất 24 độ, còn 12 độ. Ảnh hưỏng của địa chi đối với thiên can trong cùng một trụ Thiên can được địa chi sinh phù độ vượng không thay đổi. Ngũ hành của thiên can cùng loại với địa chi độ vượng của can đó cũng không thay đổi. Địa chi xì hơi thiên can Thiên can đó bị tổn mất 6 độ. Thiên can khắc phạt chi độ vượng của thiên can giảm mất 12 độ. Địa chi khắc phạt thiên can Thiên can bị khắc độ vượng giảm mất 18 độ. ĐỘ VƯỢNG NGŨ HÀNH CỦA ĐỊA CHI Địa chi cùng Ngũ hành với thiên can trực đỉnh (thiên can trực đỉnh là số độ của thiên can phải đạt từ 18 độ trở lên), hoặc được thiên can cùng trụ sinh phù và Bản thân địa chi không gặp hợp thì bản khí của nó được tăng thêm 6 độ, tạp khí không thay đổi. Nếu địa chi bị thiên can trực đỉnh khắc thì bản khí của nó giảm 8 độ, tạp khí giữ nguyên. CHI THÁNG NẮM LỆNH Ngũ hành cùng loại với ngũ hành chi tháng thì độ vượng được tăng lên 1/5, Những ngũ hành bị ngũ hành chi tháng nắm lệnh khắc, độ vượng sẽ giảm đi 1/5. Khi chi tháng Hợp với các chi khác mà hóa thì ngũ hành mới hóa đó sẽ nắm lệnh, chứ không phải ngũ hành cũ của chi tháng nắm lệnh. Nếu hợp mà không hóa thì được ngũ hành của chi tháng cũ vẫn nắm lệnh PHỤ LỤC 1: BẢNG ĐỘ VƯỢNG NGŨ HÀNH CỦA CÁC ĐỊA CHI TÀNG NHÂN NGUYÊN.   Bản khí Tạp khí Tạp khí Tổng độ vượng Tý quý thuỷ 30 độ     30 Sửu kỷ thổ 18 độ quý thủy 9 độ tân kim 3 30 Dần giáp mộc 18 bính hỏa 9 mộc thổ 3 30 Mão ất mộc 30     30 Thìn mậu thổ 18 ất mộc 9 quý thủy 3 30 Tị Bính hỏa 18 canh kim 9 mậu thổ 3 30 Ngọ đinh hỏa 21 kỷ thổ 9   30 Mùi kỷ thổ 18 đinh hỏa 9 ất mộc 3 30 Thân canh kim 18 mậu thổ 9 nhâm thủy 3 30 Dậu tân kim 30     30 Tuất mậu thổ 18 tân kim 9 đinh hỏa 3 30 Hợi nhâm thủy 21 giáp mộc 9   30 PHỤ LỤC 2: ĐỊA CHI TAM HỘI, TAM HỢP, BÁN TAM HỢP, LỤC HỢP, LỤC XUNG   Tam Hội 72 Tam Hợi 60 Bán tam hợp 40 Lục hợp 36 Lục xung mất tạp khí Dẫn hóa Mộc Cục Dần Mão Thìn Hợi Mão Mùi Hợi Mão, Mão Mùi, Hợi Mùi Dần Hợi Dần Thân Giáp/ Ất/ Giáp Kỷ/ Ất Canh/ Đinh Nhâm Hỏa cục Tị Ngọ Mùi Dần Ngọ Tuất Dần Ngọ, Ngọ Tuất, Tuất Dần Tuất Mão Mão Dậu Bính/Đinh/ Bính Tân/ Mậu Quý/ Đinh Nhâm Thổ cục   Thìn Tuất Sửu Mùi   Ngọ Mùi, Tý Sửu Thìn Tuất Mậu/Kỉ/ Giáp Kỷ/ Mậu Quý Kim cục Thân Dậu Tuất Tị Dậu Sửu Tị Dậu, Dậu Sửu, Sửu Tị Thìn Dậu Tị Hợi Canh/ Tân/ Bính Tân/ Ất Canh Thủy cục Hợi Tý Sửu Thân Tý Thìn Thân Tý, Tý Thìn, Thìn Thân Tị Thân Ngọ Tý Nhâm/ Quý/ Mậu Quý/ Đinh Nhâm/ Bính Tân           Mùi Sửu         Hai chi liền nhau (hai chi kề nhau, bản khí chi tháng sinh phù, hoặc cùng loại) , tranh hợp thì không hóa (mất tạp khí) Nếu có hai chi kẹp xung một chi thì mỗi chi kẹp xung hao mất 1/3, chi bị kẹp xung hao mất 2/3.   PHỤ LỤC 3: THIÊN CAN NGŨ HỢP   Chính hợp 60 Thê tòng phu 60 Phu tòng thê 60 Hóa mộc Đinh Nhâm Giáp Kỷ Ất Canh Hóa hỏa Mậu Quý Bính Tân Đinh Nhâm Hóa thổ Giáp Kỷ Mậu Quý Giáp Kỷ Hóa kim Ất Canh Ất Canh Bính Tân Hóa thủy Bính Tân Đinh Nhâm Mậu Quý Lục thân Tỉ kiên Bại tài Thực thần Thương quan Thiên tài Chính tài Thiên quan Chính quan Thiên ấn Chính ấn Can ngày Giáp Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỉ Canh Tân Nhâm Quý Bính Bính Đinh Mậu Kỉ Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Mậu Mậu Kỉ Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Canh Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỉ Nhâm Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỉ Canh Tân Lục thân Ngang vai Thương quan Thực thần Chính tài Thiên tài […]

Không có ảnh

鬼谷子72术 QUỶ CỐC TỬ 72 PHÉP ĐẤU PHÁP CHI THUẬT

Tháng Mười Một 11, 2021 Phạm Hồng Tiến 0

DANH MỤC -Phép thứ 1: Âm mưu dương mưu -Phép thứ 2: Xoay chuyển Càn khôn -Phép thứ 3 Đánh bại lần lượt: -Phép thứ 4:  Ứng biến thần tình: -Phép thứ 5:  Giành hết thiên cơ: -Phép thứ 6:  Họa phúc tùy lời: -Phép thứ 7:  Chúng bất địch quả: -Phép thứ 8:  Trăm phương ngàn kế: -Phép thứ 9: Thiên địa vô thường: -Phép thứ 10: Thay cũ đổi mới: -Phép thứ 11: Nhìn xa trông rộng: -Phép thứ 12: Xử lý linh họat -Phép thứ 13 Mưu thâm thích hợp: -Phép thứ 14: Hành động bí mật: –Phép thứ 15:  Đột phá điểm yếu: -Phép thứ 16 Nhỏ mà thấy lớn: -Phép thứ 17:  Đổi vai chủ – khách: -Phép thứ 18: Chiêu nạp người hàng -Phép thứ 19: Ứng địch hành động -Phép thứ 20: Tam giáo cửu lưu -Phép thứ 21: Bổ dọc chen ngang -Phép thứ 22:  Trói buộc chi phối -Phép thứ 23:  Liệu địch như thần -Phép thứ 24:  Không lừa nổi ai -Phép thứ 25: Yếu thắng được mạnh -Phép thứ 26:  Biến không thành có -Phép thứ27: Uốn ba tấc lưỡi -Phép thứ 28: Thu phục nhân tâm -Phép thứ 29:  một công đôi việc -Phép thứ 30: Bốn lạng ngàn cân –Phép thứ 31:  Ngàn vàng phá địch -Phép thứ 32:  Chủ động quyền biến -Phép thứ 33: Tuyệt đối bí mật -Phép thứ 34:  Kích động vua chúa. -Phép thứ 35:  Kế sách lâu dài -Phép thứ 36: Biết trước thời thế -Phép thứ 37:  Không đánh vẫn oai -Phép thứ 38:  Nắm quyền bá chủ -Phép thứ 39: Thay thù thành bạn -Phép thứ 40:  Chỉ dẫn do người -Phép thứ 41: Chiêu hiền đãi sĩ -Phép thứ 42:  Áp đặt chủ quan -Phép thứ 43:  Mâu thuẫn thống nhất -Phép thứ 44: Thủ trước công sau -Phép thứ 45 Kiên tâm bền chí -Phép thứ 46:  Lấy tĩnh chế động -Phép thứ 47:  Quyết giữ chính nghĩa –Phép thứ 48:  Đánh vào chỗ yếu -Phép thứ 49: Ghi công quên lỗi -Phép thứ 50: Hạ chiếu cầu hiền -Phép thứ 51: Lưu danh muôn thuở -Phép thứ 52: Thoái binh chế binh –Phép thứ 53: Đại hiền vô địch -Phép thứ 54: Tiến công nước-người -Phép thứ 55:  Giữ thế cân bằng -Phép thứ 56:  Ân náu chờ thời –Phép thứ 57:  Sử dụng nội gián -Phép thứ 58:  Uốn nắn sửa sang -Phép thứ 59:  Lùi để tiến tới -Phép thứ 60: Cho rồi mới lấy -Phép thứ 61 : Quan sát gián tiếp -Phép thứ 62 Đánh rắn dập đầu -Phép thứ 63: Chủ quan hại mình -Phép thứ 64:  Dẫn dụ đối phương -Phép thứ 65: Lợi dụng kẻ địch -Phép thứ 66: một cây thành rừng -Phép thứ 67:  Tương quan lợi hại -Phép thứ 68: Hình dung có địch -Phép thứ 69:  Học hỏi kẻ thù -Phép thứ 70: Nói mãi phải tin -Phép thứ 71: Luồn sau leo cao -Phép thứ 72: Không màng danh lợi 第01术 阳谋阴谋智略计谋, 各有形容, 或圆或方, 或阴或阳, 圣人谋之于阴故曰’神’, 成之于阳故曰’明’, 所谓主事成者, 积德也。 Yángmóu yīnmóu zhìlüè jìmóu, gè yǒu xíngróng, huò yuán huò fāng, huò yīn huò yáng, shèngrén móu zhī yú yīn gù yuē’shén’, chéng zhī yú yáng gù yuē’ míng’, suǒwèi zhǔshì chéng zhě, jīdé yě. 计谋, 有阴谋和阳谋之别, 在任何情况下, 人们都不可轻视对方, 因为事件、环境、情报都有假的。 Jìmóu, yǒu yīnmóu hé yáng móu zhī bié, zài rènhé qíngkuàng xià, rénmen dōu bùkě qīngshì duìfāng, yīn wéi shìjiàn, huánjìng, qíngbào dōu yǒu jiǎ de. 所以圣人应该高深莫测。 Suǒyǐ shèngrén yīnggāi gāoshēn mò cè. 所谓“阴”, 是谋之于阴成之于阳。 Suǒwèi “yīn”, shì móu zhī yú yīn chéng zhī yú yáng. “Mưu kế trí lược, mỗi cái đều có hình dạng của nó:  hoặc vuông hoặc tròn, hoặc âm hoặc dương”. Mưu kế có âm mưu và dương mưu, trong bất kỳ tình huống nào, người ta đều không được coi thường đối phương. Bởi vì sự việc, có những việc giả dối mà đối phương cố ý tạo ra. Tình báo cũng có tình báo giả. Cho nên thánh nhân phải làm cho đối phương không thể dò biết thực hư, Như nhà buôn phải dấu kín như không có chuyện gì. Âm mưu ở đây không phải là thứ thủ đọan của bọn tiểu nhân, mà là âm mưu của thánh nhân. Mưu việc ở âm mà thành sự ở dương. Mục đích là làm cho dân giàu nước mạnh. Cho nên Quỷ cốc tử lại nói: Thánh nhân mưu ở âm nên gọi là Thần, thành ở dương nên gọị là Minh, chủ sự thành tức là tích đức vậy. 第02术 扭转乾坤 故静固志意, 神归其舍, 则威覆盛矣, 威覆盛, 则内实坚, 内实坚, 则莫当。 Niǔzhuǎn qiánkūn gù jìng gù zhì yì, shén guī qí shě, zé wēi fù shèng yǐ, wēi fù shèng, zé nèi shí jiān, nèi shí jiān, zé mò dāng. 当形势不利时, 必须千方百计地涵养自己的精神力量, 精神力量强大了, 才可以扭转乾坤。 Dāng xíngshì bùlì shí, bìxū qiānfāngbǎijì dì hányǎng zìjǐ de jīngshén lìliàng, jīngshén lìliàng qiángdàle, cái kěyǐ niǔzhuǎn qiánkūn. -Phép thứ 2: Xoay chuyển Càn khôn Giữ vững ý chí, tinh thần thì sẽ có uy lực.  Có uy lực ắt bên trong mạnh, bên trong mạnh thì không ai địch nổi”.  Quỷ cốc tử cho rằng:  khi tình thế bất lợi cho ta, ta phải dùng trăm phương ngàn kế để hàm dưỡng sức mạng tinh thần, và chỉ khi nào sức mạnh tinh thần của ta hùng hậu thì mới có thể Xoay chuyển càn Khôn. 第03术 各个击破分威法伏熊, 分威者, 神之覆也。 Gège jípò fēn wēi fǎ fú xióng, fēn wēi zhě, shén zhī fù yě. 要想使对方的威势分散, 必须效法伏熊, 伺机而动, 各个击破。 Yào xiǎng shǐ duìfāng de wēishì fēnsàn, bìxū xiàofǎ fú xióng, sìjī ér dòng, gège jípò. -Phép thứ 3 Đánh bại lần lượt: “Phân tán được uy thế của đối phương thì ta mạnh như thần”. Muốn phân tán uy lực của đối phương thì ta phải phục sẵn, chờ cơ hội xuất hiện mà lần lượt đánh bại đối phuơng. 第04术 如闭如卦环转因化, 莫之所为, 退为尤仪。 Rú bì rú guà huán zhuǎn yīn huà, mò zhī suǒ wéi, tuì wéi yóu yí. 在作战时, 人们必须象圆环 那样 随机 应变, 运转自如, 使他人不知道自己的真实情况。 Zài zuòzhàn shí, rénmen bìxū xiàng yuán huán nàyàng suíjī yìngbiàn, yùnzhuǎn zìrú, shǐ tārén bù zhīdào zìjǐ de zhēnshí qíngkuàng. -Phép thứ 4:  Ứng biến thần tình: “Tiến thoái xoay trở, xuất quỷ nhập thần khiến người không biết đâu mà lần”. Khi tác chiến ta phải tùy cơ ứng biến không hề cố định, xoay chuyển tùy ý muốn, khiến cho đối phương chẳng biết […]

Không có ảnh

Hóa giải mệnh vận trong tứ trụ, 7/7, Những điều cần chú ý đối với người đi hóa giải.

Tháng Mười 31, 2021 Phạm Hồng Tiến 0

1) Người đi hóa giải trước hết phải thề nguyện đồng cam cộng khổ với mọi người, theo một chính giáo nhất định, cung kính tận tâm, sớm hôm hương khói không ngừng thờ phụng sư tôn. 2) Người đi hóa giải rơi vào năm ứng hạn, đặc biệt đối với người mới bắt đầu hành nghề không được hóa giải cho người khác. 3) Mặc dù là năm cát lợi đối với bản thân thì số người mình giúp hóa giải cũng không được quá nhiều. Phải vừa thể nghiệm thực tế, vừa lấy cảm giác tốt đẹp của mình làm tiêu chuẩn. 4) Phàm đối với trường hợp đối tượng bị tà khí ám hại ghê gớm, người mới bắt đầu vào nghề hóa giải tốt nhất là không nên giúp mà chỉ nên khuyên họ tránh đi. 5) Nhận phí hóa giải nên để một phần vào việc phóng sinh hoặc mua hương thờ cúng. Đối với những người đến nhờ mà gặp khó khăn thì phải giảm nhẹ hoặc không thu phí của họ. 6) Tháng đối tượng ứng nghiệm tai ách, người đi hóa giải cũng thường có cảm giác để nhận biết, biểu hiện thường thấy là bong da tay hoặc phát sinh những cơn đau nhẹ, lúc đó không được sợ hãi, nhưng cũng phải hết sức cẩn thận. 7) Nói chung những hạn trước 60 tuổi thường dễ hóa giải. Đối với người trên tuổi 60, chính khí đã cạn thì lực hóa giải chỉ có hạn, không nên manh động. 8) Muốn hóa giải có kết quả thường phải hợp duyên phận với nhau. Nói chung, phần nhiều mệnh của người đi hóa giải phải tương hợp, tương sinh với mệnh người nhờ hóa giải, hoặc mình là quý nhân của họ. Trường hợp như thế thì rất ứng nghiệm. Khi mệnh tương xung nhau tốt nhất không giúp hóa giải, bởi vì phần nhiều sẽ có hại. 9) Hạn nhỏ thường không cần hóa giải, chỉ cần dặn dò mệnh chủ chu ý là được. Đặc biệt đối với hạn li hôn, nếu vợ chồng không cùng có mặt thì tốt nhất là không hóa giải. 10) Đối với những trường hợp gặp hạn kiếp tài, kiện tụng, tù ngục, chỉ dùng vào các phương pháp hóa giải thì khó mà bảo đảm, còn đòi hỏi mệnh chủ phải nhẫn nại. Nhưng chỉ dựa vào nhẫn nại của mệnh chủ, kiếp tài, kiện tụng, lao tù tuy qua được nhưng lại biến thành bệnh tật, cho nên phải dùng các phương pháp khác nữa. 11) Vừa phải khiến cho mệnh chủ biết được tính nghiêm trọng của hạn, lại vừa phải khiến họ yên tâm. Nếu không thì vì quá lo lắng mà hạn nhỏ biến thành to, tai họa có thể tránh được lại biến thành tai họa. Hóa giải giữa chừng dễ phát sinh một số bệnh nhẹ, chỉ cần uống một ít thụốc lý khí để điều chỉnh là được. 12) Nếu mệnh chủ không thành tâm, khí trường không nối thông thì không được hóa giải, dù hóa giải cũng không linh nghiệm. Đối với những người có cứu, hoặc khí trường cao hơn mình thì cho dù giàu nghèo sang hèn đều không thể hóa giải thành công. Chỉ có chân thành cầu cứu thì mới nhìn nhau đã biết, năng lực hóa giải sẽ mạnh. 13) Đối với người tội ác nhiều mà không hối cải, khí trường bạo ngược thì không được hóa giải. Dù có hóa giải cũng không linh nghiệm, hơn nữa còn dễ mắc hại. 14) Đối với động vật phóng sinh giữa chừng dễ bị chết, không được nói trước cho mệnh chủ biết. 15) Giữa người nhờ hóa giải và người hóa giải phải tôn trọng nghiêm ngặt bảo mật các thông tin, đặc biệt là nội dung hóa giải, không được tiết lộ ra để đề phòng bất trắc. 16) Không được để xẩy ra cãi cọ với người khác, chú ý đoàn kết giữa các phái. Đối với những người đánh giá thấp hoặc coi thường mình thì cố gắng bỏ qua. Nếu họ gây ra sự tổn thất nghiêm trọng, sau nhiều lần họ vẫn không chịu hối cải, mình không chịu đựng nổi thì phải có phương pháp ra uy cho họ biết. 17) Chú ý tu dưỡng dịch đức, không ngừng tiến bộ, không ngừng hoàn thiện mình. 18) Sứ mệnh của tài liệu này là chế độ chúng sinh, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, sẵn sàng truyền cho mọi người, có duyên thì có kết quả, không có duyên thì ngàn vàng cũng không làm.

Không có ảnh

Hóa giải mệnh vận trong tứ trụ, 6/7, Chọn ngày hóa giải.

Tháng Mười 31, 2021 Phạm Hồng Tiến 0

Nếu dự đoán được trước và tìm cách hoá giải trước thì có thể chọn ngày tốt của tháng 11, hay tháng 12 của năm trước. Ví dụ năm 1996 ứng hạn, thì chọn ngày tốt của tháng 11 hoặc tháng 12 năm 1995. Các tháng đều lấy tiết lệnh làm chuẩn, giờ lấy giờ chuẩn của địa phương. Ví dụ tháng năm đó ứng hạn mà tháng năm đó mới dự đoán và tìm cách giải cứu thì lấy ngày tốt của tháng đó làm ngày hành động. Ví dụ tháng 11 năm 1996 ứng hạn mà tháng 11 năm 1996 mới đến nhờ giải cứu, có thể chọn ngày tốt trong tháng 11, thậm chí lấy ngay ngày đến nhờ giải cứu làm ngày hành động, đó gọi là gấp thì ứng gấp. Nói chung, cần chọn thiên đức, nguyệt đức, hợp thiên đức, hợp nguyệt đức, hợp can năm, hợp chi năm hay thiên ất quý nhân làm ngày giờ tốt. Không được xung phạm bản mệnh. Năm hay tháng ứng hạn đương nhiên là năm, tháng đó đã xung phạm bản mệnh,, nên; ở đây không bàn đến nữa. Giờ nên chọn là giờ quý nhân của bản mệnh, cố gắng tạo thành hỷ hay dụng thần của bản mệnh. Nếu hạn gặp xung hoặc gặp hình thì có thể chọn ngày giờ gặp hợp, ví dụ mệnh ngọ gặp năm ứng hạn là tý, có thể chọn ngày, giò mùi hoặc ngày, giờ sửu. Cuối cùng mùi tốt hay sửu tốt còn phải xem cát hung, thần sát của ngày đó có tổ hợp thành hỷ hay kị thần của bản mệnh hay không. Xét phương vị cũng tương tự. Nếu chọn ngày, giờ là mùi thì dâng hương, phóng sinh, xây dựng công trình phải dùng phương mùi, nhưng không được phạm phương sửu; nếu chọn ngày, giờ sửu để dâng hương, phóng sinh hay làm công trình thì phải dùng phương sửu nhưng không được, phạm phương mùi; Nếu gặp quan thương xung khắc lẫn nhau có thể chọn ngày giờ là tại của mệnh cục; phương vị cũng tương tự. Nếu quan thương xung khắc ở thịên can thì chọn ngày giờ theo thiên can, nếu có thể dùng địa chi phổi hợp thành tài cục làm cho tài vượng thì càng tốt. Năm ứng hạn gặp quan sát khắc thần thì có thể chọn cục ấn thụ. Phương vị cũng tương tự. Chọn ngày tốt để giải hạn khác với chọn ngày tốt theo năm sinh thường lấy thiên can làm chính; Phàm hỉ hay kị thần là tài, quán, thụ thì lấy can ngày làm chính. Chọn ngày giải hạn phải coi trọng ngày giờ, cố gắng chú ý hóa giải các điều xấu của tháng năm. Bởi vì tháng hay năm ứng hạn phần nhiều đã bị xung phạm. Nếu chọn được tháng 12 của năm trước là tốt nhất. Chọn ngày giờ tốt để giải hạn rất quan trọng, là then chốt bảo đảm cho sự thành công hay thất bại của hóa giải. Phàm hóa giải thành công phần nhiều đều là điềm dự báo tốt lành, vật phóng sinh thường tỏ ra có ý lưu luyến người chủ. Chọn ngày dâng hương phải có lễ vật. Người cần hóa giải dâng hương cầu thần phải cố gắng nhất trí với tín ngưỡng của người đi hóa giải. Sau khi đốt hương không nên bỏ đi ngay mà phải vái lạy, nhẩm đọc những điều mình thỉnh cầu, sau đó môi ra đi trong lưu luyến. Khi phóng sinh cũng cần phải tụng niệm thỉnh cầu. Dâng hương hàng ngày không được gián đoạn, nếu bận việc đột xuất phải nhờ người nhà làm thay. Sau một năm dâng hương nến chọn ngày tết để lễ tạ thần linh, đồng thời đốt hết những giấy tờ có liên quan với người giúp hóa giải, như thế mới gọi là hoàn thành. Nếu trong hai năm liên tục đều ứng hạn thì sau khi lễ tạ, có thể căn cứ hỉ hay kị thần của mệnh cục, dùng phương pháp trên để hóa giải. Cũng có người Sau đó muốn thờ phụng suốt đời. Trường hợp như vậy sau khi lễ tạ có thể chọn ngày tốt rước tượng về đặt ở cung cát lợi trong nhà, thờ cúng phải thành tâm, chỗ đặt tượng phải sạch sẽ, yên tĩnh. Các phương pháp trên đây đều do người hóa giải căn dặn, cách làm cụ thể nói chung do mệnh chủ tự hoàn thành.