Hán 6_Bài 18 _ 一盒蛋糕

一盒蛋糕
Yī hé dàngāo
Một hộp bánh Gato
说起来,已经是好几年前的事了。
Shuō qǐlái, yǐjīng shì hǎojǐ nián qián de shìle.
Kể tới chuyện này, đã là chuyện những mấy năm về trước rồi.
那一年,我在大学读书。
Nà yī nián, wǒ zài dàxué dúshū.
Năm đó, Tôi học đại học.
一天傍晚,我刚要锁上宿舍的门出去, 姐姐急忙跑来,递给我一盒生日蛋糕。
Yītiān bàngwǎn, wǒ gāng yào suǒ shàng sùshè de mén chūqù, jiějiě jímáng pǎo lái, dì gěi wǒ yī hé shēngrì dàngāo.
Một hôm trời chạng vạng tối, tôi đang định khóa cửa phòng để đi, chị gái vội vàng chạy tới, đưa một cái bánh sinh nhật cho tôi.
她说本来想给我搞个生日晚会,但刚接到通知,晚上要出差,没时间搞了。
Tā shuō běnlái xiǎng gěi wǒ gǎo gè shēngrì wǎnhuì, dàn gāng jiē dào tōngzhī, wǎnshàng yào chūchāi, méi shíjiān gǎole.
Chị nói lẽ ra định tổ chức một buổi sinh nhật cho tôi, nhưng vừa nhận được thông báo, buổi tối phải đi công tác, không có thời gian tổ chức nữa.
我因为也有急事要出去,就顺手把那盒蛋糕放在靠门口的桌子上了,那是刘西西的桌子。
Wǒ yīnwèi yěyǒu jíshì yào chūqù, jiù shùnshǒu bà nà hé dàngāo fàng zài kào ménkǒu de zhuōzi shàngle, nà shì liú xīxī de zhuōzi.
Tôi vì cũng có việc gấp phải ra ngoài, liền tiện tay để cái bánh ở bàn sát cửa, đó là bàn của Lưu Tây Tây.
晚自习后,我回到宿舍,屋子里特别热闹。
Wǎn zìxí hòu, wǒ huí dào sùshè, wūzi lǐ tèbié rènào.
Buổi tối sau khi tự học xong, tôi về đến ký túc xá, trong phòng rất náo nhiệt.
八九个女孩子围着刘西西,个个手中拿着一块蛋糕,高高兴兴地吃着。
Bājiǔ gè nǚ háizi wéizhe liú xīxī, gè gè shǒuzhōng názhe yīkuài dàngāo, gāo gāoxìng xìng de chīzhe.
Tám chín đứa con gái vây quanh Liu Tây Tây, ai nấy đều cầm một miếng bánh trên tay, ăn rất vui vẻ.
我忽然想起姐姐送来的蛋糕,可我还来不及弄清这是怎么回事,刘西西就拉着我的手兴奋地对我说:“我真高兴!竟然有人知道我今天过生日,特意给我送来一盒蛋糕。
蛋糕上面还有漂亮的花和字,可惜你回来晚了,没看见 ……”  
Wǒ hūrán xiǎngqǐ jiějiě sòng lái de dàngāo, kě wǒ hái láibují nòng qīng zhè shì zěnme huí shì, liú xīxī jiù lāzhe wǒ de shǒu xīngfèn de duì wǒ shuō:“Wǒ zhēn gāoxìng! Jìngrán yǒurén zhīdào wǒ jīntiānguò shēngrì, tèyì gěi wǒ sòng lái yī hé dàngāo.
Dàngāo shàngmiàn hái yǒu piàoliang de huā hé zì, kěxí nǐ huílái wǎnle, méi kànjiàn……”
Tôi chợt nhớ ra bánh của chị gái tặng, nhưng tôi vẫn chưa kịp làm rõ chuyện này như thế nào, Liu Tây Tây kéo ngay tay tôi rất vui nói với tôi rằng: “Tớ vui quá, không ngờ có ai đó biết hôm nay là sinh nhật của tớ, tặng riêng một cái bánh cho tớ.
Trên bánh còn có hoa và chữ rất đẹp, chỉ tiếc là bạn về muộn, không nhìn thấy ….”
我一下子傻眼了。
Wǒ yīxià zi shǎyǎnle.
Tôi lập tức nghệt mặt ra.
刘西西把一块蛋糕递到我手里:“她们都说不知道是谁送的蛋糕,你是最后一个离开宿舍的,我猜你一定看见了,告诉我,那个人是男的还是女的?”
Liú xīxī bǎ yīkuài dàngāo dì dào wǒ shǒu lǐ:“Tāmen dōu shuō bu zhīdào shì shéi sòng de dàngāo, nǐ shì zuìhòu yīgè líkāi sùshè de, wǒ cāi nǐ yīdìng kànjiànle, gàosù wǒ, nàgè rén shì nán de háishì nǚ de?”
Liu Tây Tây đưa một miếng bánh vào tay tôi: “Các bạn ấy ai cũng nói không biết bánh của ai tặng, bạn là người cuối cùng rời khỏi phòng, tôi đoán là bạn nhất định sẽ nhìn thấy, nói cho tớ biết đi, người ấy là con trai hay con gái?”
这时候有人开玩笑地说: “一定是女的。咱们西西长得这么丑,哪里会有男孩子喜欢嘛!”
Zhè shíhòu yǒurén kāiwánxiào de shuō: “Yīdìng shì nǚ de. Zánmen xīxī zhǎng dé zhème chǒu, nǎlǐ huì yǒu nán háizi xǐhuān ma!”
Lúc này có bạn trêu nói rằng: “Chắc chắn là con gái. Tây Tây nhà mình trông xấu thế này, làm gì có bạn trai thích chứ!”
西西脸上显出一点失望。
Xīxī liǎn shàng xiǎn chū yīdiǎn shīwàng.
Vẻ mặt của Tây Tây có vẻ hơi thất vọng.
她摇着我的肩:“你快说嘛!你快说嘛!”
Tā yáozhe wǒ de jiān:“Nǐ kuài shuō ma! Nǐ kuài shuō ma!”
Cô ấy lắc vai tôi nói rằng: Cậu mau nói đi, cậu mau nói đi!”
那一刻,我几乎要大声喊出来,这蛋糕是我姐姐送给我的!
Nà yīkè, wǒ jīhū yào dàshēng hǎn chūlái, zhè dàngāo shì wǒ jiějiě sòng gěi wǒ de!
Giây phút đó, tôi gần như muốn lớn tiếng hét lên, cái bánh này là của chị tớ tặng cho tớ!
可是,看到那一张张兴高采烈的脸和西西充满期待的目光,我不忍让大家扫兴, 更不忍让西西出丑。
Kěshì, kàn dào nà yī zhāng zhāng xìnggāocǎiliè de liǎn hé xīxī chōngmǎn qídài de mùguāng, wǒ bùrěn ràng dàjiā sǎoxìng, gèng bùrěn ràng xīxī chūchǒu.
Nhưng mà, nhìn thấy những khuôn mặt đang vui mừng và ánh mắt tràn đầy niềm ao ước đợi chờ của Tây Tây, tôi không nỡ làm mọi người cụt hứng, càng không muốn để cho Tây Tây bẽ mặt.
于是,我只好将错就错地说了一个谎:“是一个很帅的男孩!”
Yúshì, wǒ zhǐhǎo jiāngcuòjiùcuò de shuōle yīgè huǎng:“Shì yīgè hěn shuài de nánhái!”
Thế là, tôi đành phải đâm lao theo lao bịa ra một câu: “Là một bạn nam rất đẹp trai!”
 “好啊!”随着西西的欢呼,大伙儿一齐鼓掌。
“Hǎo a!” Suízhe xīxī de huānhū, dàhuǒ er yīqí gǔzhǎng.
“Hay quá!” theo tiếng hoan hô của Tây Tây, mọi người cùng nhau vỗ tay.
有人说了一句:“一定是哪个人偷偷地喜欢上你了!”
Yǒurén shuōle yījù:“Yīdìng shì nǎge rén tōutōu de xǐhuān shàng nǐle!”
Có ai đấy nói chen vào một câu: “Chắc là người ấy đã yêu thầm bạn rồi!”
西西笑了。
Xīxī xiàole.
Tây Tây cười vui lên.
半夜,西西推醒我,悄悄地问我:“那个男孩是不是我们年级的?”
Bànyè, xīxī tuī xǐng wǒ, qiāoqiāo de wèn wǒ:“Nàgè nánhái shì bùshì wǒmen niánjí de?”
Nửa đêm, Tây Tây đánh thức tôi, thì thầm hỏi tôi: “Bạn nam ấy có phải cùng khóa với bọn mình không?”
我摇摇头。
Wǒ yáo yáotóu.
Tôi lắc đầu.
她又问:“是不是我们学校的?”
Tā yòu wèn:“Shì bùshì wǒmen xuéxiào de?”
Cô ấy lại hỏi: “Có phải trường mình không?”
我只好解释:“天大黑,我看不清那人的脸。”
Wǒ zhǐhǎo jiěshì:“Tiān dà hēi, wǒ kàn bù qīng nà rén de liǎn.”
Tôi đành phải giải thích: “Trời tối quá tớ nhìn không rõ mặt.”
以后的几个星期,宿舍里周末的中心话题都是关于送蛋糕给西西的那个男孩,虽然谈不出什么结果,却为我们找到了一个有趣的话题。
Yǐhòu de jǐ gè xīngqí, sùshè lǐ zhōumò de zhōngxīn huàtí dōu shì guānyú sòng dàngāo gěi xīxī dì nàgè nánhái, suīrán tán bù chū shénme jiéguǒ, què wèi wǒmen zhǎodàole yīgè yǒuqù de huàtí.
Mấy tuần về sau, chủ đều chính cuối tuần ở kí túc xá đều liên quan đến cậu con trai tặng bánh cho Tây Tây, mặc dù không nói lên kết quả gì cả, nhưng lại tìm được một chủ đề thú vị cho chúng tôi.
渐渐地,我们都忘了这件事。
Jiànjiàn de, wǒmen dōu wàngle zhè jiàn shì.
Rồi dần dần, chúng tôi đã quên hết chuyện này.
只是偶然有人向西西问上一句 “那个神秘的男孩有没有消息?”
Zhǐshì ǒurán yǒurén xiàng xīxī wèn shàng yījù “nàgè shénmì de nánhái yǒu méiyǒu xiāoxī?”
Chỉ là thi thoảnh có người hỏi Tây Tây một câu: “Có tin gì về cậu con trai bí ẩn đó chưa?”
而西西总是摇头,还故意加上一声叹息。
Ér xīxī zǒng shì yáotóu, hái gùyì jiā shàng yīshēng tànxí.
Còn Tây Tây luôn lắc đầu, còn cố ý thêm một tiếng thở dài.
毕业前的一天,西西一个人靠着窗口坐着,手里拿着一条粉色的绸带,也许除了西西之外,只有我还记得这绸带正是我生日蛋糕盒上的那一条。
Bìyè qián de yītiān, xīxī yīgè rén kàozhe chuāngkǒu zuòzhe, shǒu lǐ názhe yītiáo fěnsè de chóu dài, yěxǔ chúle xīxī zhī wài, zhǐyǒu wǒ hái jìdé zhè chóu dài zhèng shì wǒ shēngrì dàngāo hé shàng dì nà yītiáo.
Một hôm trước ngày tốt nghiệp, một mình Tây Tây ngồi dựa vào cửa sổ, tay cầm cái dây ruy băng màu phần hồng đấy, có lẽ ngoài Tây Tây ra, chỉ có tôi vẫn nhớ cái dây ruy băng ấy là cái dây trên hộp bánh sinh nhật của tôi.
看到她那副样子,我很想把真相告诉她,好让她死了那份心,可总也开不了口。
Kàn dào tā nà fù yàngzi, wǒ hěn xiǎng bǎ zhēnxiàng gàosù tā, hǎo ràng tā sǐle nà fèn xīn, kě zǒng yě kāi bùliǎo kǒu.
Thấy bộ dạng của cô ấy, tôi rất muốn nói cho cô ấy biết chân tướng sự việc, để cô ấy từ bỏ ý định đó đi, nhưng không tài nào mở miệng ra nói được.
后来,西西要跟随家人到国外去了。
Hòulái, xīxī yào gēnsuí jiārén dào guówài qùle.
Sau đó, Tây Tây phải theo người nhà ra nước ngoài.
我下定决心要把真相告诉她。
Wǒ xiàdìng juéxīn yào bǎ zhēnxiàng gàosù tā.
Tôi hạ quyết tâm đem chân tướng nói cho cô ấy biết.
可是,当我看见她系在头上的那条粉色绸带时,我的心立即又软了下来。
Kěshì, dāng wǒ kànjiàn tā xì zài tóu shàng de nà tiáo fěnsè chóu dài shí, wǒ de xīn lìjí yòu ruǎnle xiàlái.
Nhưng mà, lúc tôi nhìn thấy sợi ruy băng được buộc trên tóc của cô ấy, thì lòng tôi lại lập tức mềm trở lại.
她所表露的那份少女特有的期待,让我深深地感动。
Tā suǒ biǎolù de nà fèn shàonǚ tèyǒu de qídài, ràng wǒ shēn shēn de gǎndòng.
Niềm khoa khát và đợi chờ vốn có của một thiếu nữ mà cô ấy thể hiện, khiến tôi rất cảm động.
我终于什么都没有说,继续将错就错,让她带着这场甜蜜的梦上了飞机,飞向不可预知的未来…
Wǒ zhōngyú shénme dōu méiyǒu shuō, jìxù jiāngcuòjiùcuò, ràng tā dàizhe zhè chǎng tiánmì de mèng shàngle fēijī, fēi xiàng bùkě yùzhī de wèilái…
Cuối cùng tôi cũng không nói gì cả, tiếp tục đâm lao theo lao, để cô ấy mang theo ước mơ ngọt ngào lên máy bay, rồi bay đến tương lai không thể có được…
六年后的一天,西西已是两个孩子的母亲了。
Liù nián hòu de yītiān, xīxī yǐ shì liǎng gè háizi de mǔqīnle.
Vào một hôm sau sáu năm, Tây Tây đã là mẹ của hai con.
丈夫是一位美籍华人。
Zhàngfū shì yī wèi měi jí huárén.
Ông xã là người Mỹ gốc Hoa.
当然,她后来终于知道了那个所谓男孩送蛋糕的事只是一场美丽的误会。
Dāngrán, tā hòulái zhōngyú zhīdàole nàgè suǒwèi nánhái sòng dàngāo de shì zhǐshì yī chǎng měilì de wùhuì.
Đương nhiên, cô ấy cuối cùng cũng đã biết về việc người con trai tặng bánh đó chỉ là một sự hiểu lầm đẹp.
但她并没有责怪我。
Dàn tā bìng méiyǒu zéguài wǒ.
Nhưng cô ấy không hề trách tôi.
相反,她感谢我给了她一段美丽的回忆。
Xiāngfǎn, tā gǎnxiè wǒ gěile tā yīduàn měilì de huíyì.
Trái lại, cô ấy còn cảm ơn tôi đã cho cô ấy một kỉ niệm đẹp.
她还说,当她女儿十八岁时,她会把这段往事当做一个美丽的笑话讲给女儿听……
Tā hái shuō, dāng tā nǚ’ér shíbā suì shí, tā huì bǎ zhè duàn wǎngshì dàngzuò yīgè měilì de xiàohuà jiǎng gěi nǚ’ér tīng……
Cô ấy còn nói, khi con gái cô ấy mười tám tuổi, cô ấy sẽ đem chuyện cũ này coi đó là một câu chuyện vui để kể cho con gái nghe….
原来,并不是所有的错误都会留下遗憾,有时候将错就错,也能错出一段美丽的故事来。
Yuánlái, bìng bùshì suǒyǒu de cuòwù dūhuì liú xià yíhàn, yǒu shíhòu jiāngcuòjiùcuò, yě néng cuò chū yīduàn měilì de gùshì lái.
Hóa ra, không phải tất cả mọi sai lầm đều để lại sự nuối tiếc, đôi khi đâm lao theo lao, lại có được một câu chuyện hay.
向李大姐借了两块钱的事
Xiàng lǐ dàjiě jièle liǎng kuài qián de shì
Chuyện mượn chị Lý hai đồng.
那天,小王跟同事李大姐去办事。
Nèitiān, xiǎo wáng gēn tóngshì lǐ dàjiě qù bànshì.
Hôm đấy, tiểu Vương đi bàn công việc  cùng với chị Lý đồng nghiệp .
回来的路上,小王在书报亭买了一本杂志。
Huílái de lùshàng, xiǎo wáng zài shūbàotíng mǎile yī běn zázhì.
Trên đường về, Tiểu Vương mua một quyển tạp chí ở sạp bán báo.
因没有零钱,就向李大姐借了两块钱。
Yīn méiyǒu língqián, jiù xiàng lǐ dàjiě jièle liǎng kuài qián.
Vì không có tiền lẻ, liền mượn chị Lý hai đồng.
第二天,小王见到李大姐却没提还钱的事。
Dì èr tiān, xiǎo wáng jiàn dào lǐ dàjiě què méi tí huán qián de shì.
Hôm sau, tiểu Vương gặp chị Lý nhưng lại không nhắc đến việc trả tiền.
李大姐心里想:小王可能是没带零钱。
Lǐ dàjiě xīnlǐ xiǎng: Xiǎo wáng kěnéng shì méi dài língqián.
Chị Lý nghĩ bụng: Tiểu Vương chắc là không mang tiền lẻ.
时间长了,小王显然忘了借钱的事。
Shíjiān zhǎngle, xiǎo wáng xiǎnrán wàngle jiè qián de shì.
Lâu ngày, tiểu Vương hiển nhiên quên mất việc mượn tiền.
李大姐就有点儿不高兴。
Lǐ dàjiě jiù yǒudiǎn er bù gāoxìng.
Chị Lý liền có chút không vui.
以前她看小王是个挺不错的小伙子,现在觉得小王这个人不怎么样。
Yǐqián tā kàn xiǎo wáng shìgè tǐng bùcuò de xiǎohuǒzi, xiànzài juédé xiǎo wáng zhège rén bù zě me yàng.
Trước đây chị ấy thấy tiểu Vương là một câu thanh niên rất tuyệt vời, bây giờ thì cảm thấy tiểu Vương con người này không ra gì.
小王谈了个朋友叫红红,是个长得很漂亮的姑娘。
Xiǎo wáng tánle gè péngyǒu jiào hóng hóng, shìgè zhǎng dé hěn piàoliang de gūniáng.
Tiểu Vương yêu một cô bé tên là Hồng Hồng, là một cô gái trông rất xinh xắn.
红红的妈妈是李大姐中学时的同学。
Hóng hóng de māmā shì lǐ dàjiě zhōngxué shí de tóngxué.
Mẹ của tiểu Hồng là bạn học hồi trung học của chị Lý.
一天,她找到李大姐,想了解一下小王这个人怎么样。
Yītiān, tā zhǎodào lǐ dàjiě, xiǎng liǎo jiě yīxià xiǎo wáng zhège rén zěnme yàng.
Một hôm, Cô ấy tìm đến chỗ chị Lý, muốn tìm hiểu một chút tiểu Vương con người này thế nào.
李大姐很痛快地说了自己对小王的看法,最后还说:“你千万别跟红红讲是我说的。
说实话,我们要不是老同学,我决不会说的。”
Lǐ dàjiě hěn tòngkuài de shuōle zìjǐ duì xiǎo wáng de kànfǎ, zuìhòu hái shuō:“Nǐ qiān wàn bié gēn hóng hóng jiǎng shì wǒ shuō de.
Shuō shíhuà, wǒmen yào bùshì lǎo tóngxué, wǒ jué bù huì shuō de.”
Chị Lý rất thẳng thắn nói cái ý kiến của mình đối với tiểu Vương, cuối cùng còn nói một câu: “Bạn đừng bao giờ nói cho bé Hồng biết là tớ nói đấy nhé.
Nói thật, nếu chúng mình không phải là bạn học cũ, thì tôi quyết sẽ không nói đâu.”
小王的好事果然没成。
Xiǎo wáng de hǎoshì guǒrán méi chéng.
Việc tốt của tiểu Vương quả nhiên không thành.
不久前,李大姐家遇到了倒霉的事情。
Bùjiǔ qián, lǐ dàjiě jiā yù dàole dǎoméi de shìqíng.
Cách đây không lâu, gia đình của chị Lý gặp phải chuyện không may.
一场大火把家里很多东西都烧了。
Yī chǎng dà huǒbǎ jiālǐ hěnduō dōngxī dū shāole.
Một trận lửa lớn đã thiêu cháy rất nhiều đồ đạc trong nhà.
虽然保险公司给了赔偿,但是办公室的同事还是由主任带头,每人捐了一些钱,表示点同情的意思。
Suīrán bǎoxiǎn gōngsī gěile péicháng, dànshì bàngōngshì de tóngshì háishì yóu zhǔrèn dàitóu, měi rén juānle yīxiē qián, biǎoshì diǎn tóngqíng de yìsi.
Mặc dù công ty bảo hiểm đã bồi thường, nhưng mà các đồng nghiệp ở văn phòng do chủ nhiệm dẫn đầu, mỗi người quên góp một ít tiền, tỏ chút lòng thành.
少的一二十,多的也不过三五十。
Shǎo de yī’èrshí, duō de yě bùguò sānwǔshí.
Ít thì cũng một hai chục, nhiều thì cũng là dăm ba chục.
晚上下班,小王骑车追上了李大姐。
Wǎnshàng xiàbān, xiǎo wáng qí chē zhuī shàngle lǐ dàjiě.
Buổi tối tan ca, tiểu Vương đạp xe đuổi kịp chị Lý.
他递给李大姐一沓钱,诚恳地说:“大姐,这是我的一千块钱,帮你解决点困难吧。”
Tā dì gěi lǐ dàjiě yī dá qián, chéngkěn de shuō:“Dàjiě, zhè shì wǒ de yīqiān kuài qián, bāng nǐ jiějué diǎn kùnnán ba.”
Cậu ấy đưa một tệp tiền cho chị Lý, rất thành khẩn nói: “Chị ơi, đây là một nghìn đồng của em, để giúp chị giải quyết khó khăn trước mắt.”
李大姐愣了,不知说什么好。
Lǐ dàjiě lèngle, bùzhī shuō shénme hǎo.
Chị Lý sững người ra, chẳng biết phải nói gì hơn.
“刚才在办公室里,我不好意思拿出来。怕大家……他们都有家。
我单身一个,应该多出点儿。”
“Gāngcái zài bàngōngshì lǐ, wǒ bù hǎoyìsi ná chūlái. Pà dàjiā……tāmen dōu yǒu jiā.
Wǒ dānshēn yīgè, yīnggāi duō chū diǎn er.”
“Lúc nãy ở trong văn phòng, em ngại đem ra. Sợ mọi người… họ đều có gia đình.
Em chỉ có một mình, nên quyên góp nhiều một chút.”
李大姐接过钱,哭了。
Lǐ dàjiě jiēguò qián, kūle.
Chị Lý cầm lấy tiền, rơm rớm nước mắt.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*