Hán 6_Bài 20 _ 什么最重要

什么最重要 Cái gì quan trọng nhất
彭艺云是在英国留学的中国学生。
Péngyìyún shì zài yīngguó liúxué de zhōngguó xuéshēng.
Bành Nghệ Vân là du học sinh người Trung du học tại Anh Quốc.
一天,她去牛津大学面试,穿得很朴素,也没戴什么首饰。
Yītiān, tā qù niújīn dàxué miànshì, chuān dé hěn púsù, yě méi dài shénme shǒushì.
Có một hôm, cô ấy đến trường đại học Oxford phỏng vấn, ăn mặc rất mộc mạc, cũng không đeo bất cứ trang sức gì.
朋友劝她说:
“去考牛津这所世界上最 有名的贵族大学,而且还要接受世界著名的阿加尔教授的面试,你这副样子怎么能给人家良好的第一印象呢?”
Péngyǒu quàn tā shuō:
“Qù kǎo niújīn zhè suǒ shìjiè shàng zuì yǒumíng de guìzú dàxué, érqiě hái yào jiēshòu shìjiè zhùmíng de ā jiā’ěr jiàoshòu de miànshì, nǐ zhè fù yàngzi zěnme néng gěi rénjiā liánghǎo de dì yī yìnxiàng ne?”
Bạn bè khuyên cô ấy rằng:
“đi thi trường Oxford đại học quý tộc nổi tiếng nhất thế giới này, mà còn phải tiếp nhận sự phỏng vấn của giáo sư Archer nổi tiếng thế giới, bộ dạng này của bạn làm sao có thể để lại ấn tượng đầu tiên tốt cho người ta chứ.
“我本来也不是什么贵族,何必要装出贵族的样子呢?
“Wǒ běnlái yě bùshì shénme guìzú, hébì yào zhuāng chū guìzú de yàngzi ne?
“Tôi vốn dĩ cũng chẳng phải quý tộc gì, hà tất phải giả dạng quý tộc chứ?
再说,考得上考不上,凭的是知识和才能,不是衣服。”
Zàishuō, kǎo dé shàng kǎo bù shàng, píng de shì zhīshì hé cáinéng, bùshì yīfú.”
Hơn nữa, có thi được hay không, những thứ mà dựa vào là kiến thức và tài năng, không phải quần áo.”
她的自信使朋友觉得很有道理。
Tā de zìxìn shǐ péngyǒu juédé hěn yǒu dàolǐ.
Sự tự tin của của cô ấy khiến bạn bè cảm thấy rất có lý.
然而,让人吃惊的是,面试时她竟然跟阿加尔教授争论了起来,教授很生气。
Rán’ér, ràng rén chījīng de shì, miànshì shí tā jìngrán gēn ā jiā’ěr jiàoshòu zhēnglùnle qǐlái, jiàoshòu hěn shēngqì.
Thế nhưng, điều khiến cho người ta ngạc nhiên đó là, lúc phỏng vấn không ngờ cô ấy lại tranh luận với giáo sư Archer, giáo sư rất bực mình.
“你以为你可以说服我吗? ”
教授大声地说。
“Nǐ yǐwéi nǐ kěyǐ shuōfú wǒ ma? ” Jiàoshòu dàshēng de shuō.
“Cô cho rằng cô có thể thuyết phục tôi hay sao?”
giáo sư lớn tiếng nói.
“当然不一定,因为我还没出生时,您已经是心理医生了。”
彭艺云毫不示弱地回答,
“Dāngrán bù yīdìng, yīnwèi wǒ hái méi chūshēng shí, nín yǐjīng shì xīnlǐ yīshēngle.”
Péngyìyún háo bù shìruò de huídá,
“Điều này chưa chắc, bởi vì lúc em chưa chào đời, thì thầy đã là bác sĩ tâm lý rồi.”
Bành Nghệ Vân trả lời một cách không hề yếu đuối.
“但是实验可以。
不过要是没有人做这些实验,那就永远也不会有人知道您和我谁对谁错了。”
“Dànshì shíyàn kěyǐ.
Bùguò yàoshi méiyǒurén zuò zhèxiē shíyàn, nà jiù yǒngyuǎn yě bù huì yǒu rén zhīdào nín hé wǒ shéi duì shéi cuòle.”
“Nhưng thực nghiệm thì có thể.
Nhưng nếu không có ai làm những thực nghiệm này, thế thì sẽ mãi mãi không có ai biết được giữa thầy và con ai đúng ai sai.”
“这就是你的实验方案吗?
我马上可以指出它的好几个错误。”
“Zhè jiùshì nǐ de shíyàn fāng’àn ma?
Wǒ mǎshàng kěyǐ zhǐchū tā de hǎojǐ gè cuòwù.”
“Đây chính là phương án thực nghiệm của cô hay sao?  
Tôi ngay lập tức có thể chỉ ra những điểm sai của nó.”
“这只能说明实验方案还不成熟。
要是您收我当您的学生,自然可以把它改得更好。”
“Zhè zhǐ néng shuōmíng shíyàn fāng’àn hái bù chéngshú.
Yàoshi nín shōu wǒ dāng nín de xuéshēng, zìrán kěyǐ bǎ tā gǎi dé gèng hǎo.”
“Điều này chỉ có thể chứng tỏ phương án thực nghiệm vẫn chưa thành thục.
Nếu như thầy nhận em làm học sinh của thầy, tự nhiên sẽ sửa đổi nó một cách tốt hơn.”
“你想让我指导一个反对我的研究生吗?”
“Nǐ xiǎng ràng wǒ zhǐdǎo yīgè fǎnduì wǒ de yánjiūshēng ma?”
“Cô muốn để tôi chỉ đạo một nghiên cứu sinh phản đối tôi hay sao?”
“是的,我是这样想的。”
她笑了笑,
“Shì de, wǒ shì zhèyàng xiǎng de.” Tā xiàole xiào,
“Vâng ạ, em nghĩ như vậy.”
Cô ấy cười cười một cái.
“可是跟您争过以后,我知道牛津大学是不可能录取我了。”
“Kěshì gēn nín zhēngguò yǐhòu, wǒ zhīdào niújīn dàxué shì bù kěnéng lùqǔ wǒle.”
Nhưng mà sau khi tranh luận với thầy, em biết trường đại học Oxford này không thể thu nhận em được nữa.”
“你为什么选择‘行为治疗’这门课程?
又为什么选择我作你的导师呢?”
“Nǐ wèishéme xuǎnzé ‘xíngwéi zhìliáo’ zhè mén kèchéng?
Yòu wèishénme xuǎnzé wǒ zuò nǐ de dǎoshī ne?”
“Sao cô lại chọn môn ‘hành vi trị liệu này’?
Sao lại chọn tôi làm thầy của cô.
“您在书里曾写道过:
‘行为治疗的目的,是使那些心灵痛苦的人能够回到正常生活中去,从而享受正常人都拥有的幸福和权利。’
“Nín zài shū lǐ céng xiě dàoguò:
‘Xíngwéi zhìliáo de mùdì, shì shǐ nàxiē xīnlíng tòngkǔ de rén nénggòu huí dào zhèngcháng shēnghuó zhōng qù, cóng’ér xiǎngshòu zhèngcháng rén dōu yǒngyǒu de xìngfú hé quánlì.’
“Thầy đã từng viết ở trong sách rằng: ‘Mục đích của hành vi trị liệu là khiến cho những người tâm hồn đau khổ có thể trở lại cuộc sống bình thường, từ đó hưởng thụ cái quyền lợi và hạnh phúc của người bình thường đều có ’.
老实说,您书里的理论我并不都赞成,可我同意这句话。
Lǎoshí shuō, nín shū lǐ de lǐlùn wǒ bìng bù dōu zànchéng, kě wǒ tóngyì zhè jù huà.
Thú thật, những lý thuyết trong sách của thầy còn không hoàn toàn tán thành, nhưng con đồng ý câu nói này của thầy.
我想我们的分歧只是怎样才能做得更好些,怎样才能更好地治疗病人。”
Wǒ xiǎng wǒmen de fēnqí zhǐshì zěnyàng cáinéng zuò dé gèng hǎoxiē, zěnyàng cáinéng gèng hǎo de zhìliáo bìngrén.”
Em nghĩ cái mâu thuẫn của chúng ta chỉ là làm thế nào để làm được tốt hơn, làm thế nào mới có thể chữa trị bệnh nhân một cách tốt hơn.
“谢谢你,彭小姐,你可以走了。”
“Xièxiè nǐ, péng xiǎojiě, nǐ kěyǐ zǒule.”
“Cảm ơn cô, Bành tiểu thư, cô có thể đi rồi.”
“谢谢您,阿加尔教授,再见!”
“Xièxiè nín, ā jiā’ěr jiàoshòu, zàijiàn!”
“Cảm ơn thầy, giáo sư Archer, em chào thầy!”
彭艺云非常希望做阿加尔教授的研究生。
Péngyìyún fēicháng xīwàng zuò ā jiā’ěr jiàoshòu de yánjiūshēng.
Bành Nghệ Vân rất mong được làm nghiên cứu sinh của giáo sư Archer.
因为阿加尔不仅是国际著名的心理学教授,而且他的研究生都有奖学金。
Yīnwèi ā jiā’ěr bùjǐn shì guójì zhùmíng de xīnlǐ xué jiàoshòu, érqiě tā de yánjiūshēng dōu yǒu jiǎngxuéjīn.
Bời vì Archer không chỉ là giáo sư tâm lý học nổi tiếng quốc tế, hơn nữa nghiên cứu sinh của ông ấy đều có học bổng.
彭艺云付不起几千英镑的学费,必须争取得到奖学金,不然她就没办法再继续学下去了。
Péngyìyún fù bù qǐ jǐ qiān yīngbàng de xuéfèi, bìxū zhēngqǔ dédào jiǎngxuéjīn, bùrán tā jiù méi bànfǎ zài jìxù xué xiàqùle.
Bành Nghệ Vân không chi nổi học phí mấy nghìn bảng Anh, nhất định phải cố gắng dành được học bổng, nếu không thì cô ấy không còn cách nào tiếp tục học tiếp nữa.
不过阿加尔对学生的要求很严格,总是挑了又挑,选了又选,四五年才收一两名。
Bùguò ā jiā’ěr duì xuéshēng de yāoqiú hěn yángé, zǒng shì tiāole yòu tiāo, xuǎnle yòu xuǎn, sìwǔ nián cái shōu yī liǎng míng.
Nhưng giáo sư Archer đòi hỏi rất nghiêm khắc với học sinh, luôn là chọn đi chọn lại, lựa rồi lại lựa, bốn đến năm năm mới nhận vài học sinh.
朋友为她担心,批评她不该跟教授争论,
“既然奖学金对你那么重要,你又明明知道阿加尔教授非常严格,为什么还要跟他争论呢?”
Péngyǒu wèi tā dānxīn, pīpíng tā bù gāi gēn jiàoshòu zhēnglùn,
“jìrán jiǎngxuéjīn duì nǐ nàme zhòngyào, nǐ yòu míngmíng zhīdào ā jiā’ěr jiàoshòu fēicháng yángé, wèishéme hái yào gēn tā zhēnglùn ne?”
Bạn bè thì lo cho cô ấy, phê bình cô ấy không nên tranh luận với giáo sư,
“Học bổng nếu đã quan trọng như vậy đối với bạn, bạn lại biết rõ giáo sư Archer vô cùng nghiêm khắc, sao lại còn tranh luận với ông ấy chứ?”
她笑了笑说:
“如果你不爱一个姑娘,你能为了钱而说爱她吗?”
Tā xiàole xiào shuō:
“Rúguǒ nǐ bù ài yīgè gūniáng, nǐ néng wéi le qián ér shuō ài tā ma?”
Cô ấy cười cười một cái nói:
“Nếu bạn không yêu một cô gái, thì bạn có thể vì tiền mà nói lời yêu cô ấy không?
“那当然很难!”
朋友承认说,
“Nà dāngrán hěn nán!”
Péngyǒu chéngrèn shuō,
“Điều đó đương nhiên là rất khó!”
người bạn thừa nhận nói,
“可你……”
“Kě nǐ……”
“Nhưng bạn….”
“那么在科学上,违心地赞成自己认为错误的理论,那就更难。
“Nàme zài kēxué shàng, wéixīn de zànchéng zìjǐ rènwéi cuòwù de lǐlùn, nà jiù gèng nán.
“Vậy thì về mặt khoa học, trái lòng tán thành một cái lý luận mình cho là sai, vậy thì càng khó hơn.
假如你在爱情上欺骗,受骗的只是一个人;
可在科学上欺骗,只是为了钱而不坚持正确的观点,受害的将是成千上万的病人。
Jiǎrú nǐ zài àiqíng shàng qīpiàn, shòupiàn de zhǐshì yīgè rén;
kě zài kēxué shàng qīpiàn, zhǐshì wèile qián ér bù jiānchí zhèngquè de guāndiǎn, shòuhài de jiāng shì chéng qiān shàng wàn de bìngrén.
Giá như bạn lừa gạt trong tình yêu, người bị lừa chỉ là một người thôi;
còn lừa gạt về mặt khoa học, chỉ là vì tiền mà không kiên trì quan điểm đúng đắn, những người bị hại là hàng ngàn hàng vạn bệnh nhân.
我想,如果我那样做了,我这一生都会受到良心的谴责。”
Wǒ xiǎng, rúguǒ wǒ nàyàng zuòle, wǒ zhè yīshēng dūhuì shòudào liángxīn de qiǎnzé.”
Tôi nghĩ, nếu tôi làm như vậy, thì cả cuộc đời này của tôi sẽ bị khiển trách bởi lương tâm.
她说,
“一个搞科学研究的人,最重要的就是要敢于坚持真理,敢于坚持自己的观点。
Tā shuō,
“yīgè gǎo kēxué yánjiū de rén, zuì zhòngyào de jiùshì yào gǎnyú jiānchí zhēnlǐ, gǎnyú jiānchí zìjǐ de guāndiǎn.
Cô ấy nói,
“một người làm về nghiên cứu khoa học, điều quan trọng nhất là phải dám kiên trì chân lý, phải dám kiên trì quan điểm của mình.
当然也要敢于修正错误。”
Dāngrán yě yào gǎnyú xiūzhèng cuòwù.”
Đương nhiên cũng phải dám sửa chữa sai lầm.
面试结果出来了。
Miànshì jiéguǒ chūláile.
Có kết quả phỏng vấn rồi.
大厅里挤满了人。
Dàtīng lǐ jǐ mǎnle rén.
Trong sảnh đã chật kín người.
秘书宣布:
“获得阿加尔教授博士研究生资格的是来自中国的伦敦大学学生彭艺云小姐!”
Mìshū xuānbù:
“Huòdé ā jiā’ěr jiàoshòu bóshì yánjiūshēng zīgé de shì láizì zhōngguó de lúndūn dàxué xuéshēng péngyìyún xiǎojiě!”
Thư kí nói:
“Giành được tư cách nghiên cứu sinh tiến sĩ của giáo Archer là cô Bành Nghệ Vân học sinh trường đại học Luân Đôn đến từ Trung Quốc.
阿加尔教授站起来,他走到彭艺云的跟前,当着众人对她说:
“你看,我的孩子,你跟我争论了两个小时,我还是决定要录取你。
Ā jiā’ěr jiàoshòu zhàn qǐlái, tā zǒu dào péngyìyún de gēnqián, dāngzhe zhòngrén duì tā shuō:
“Nǐ kàn, wǒ de háizi, nǐ gēn wǒ zhēnglùnle liǎng gè xiǎoshí, wǒ háishì juédìng yào lùqǔ nǐ.
Giáo sư Archer đứng dậy, ông ấy đi đến trước mặt Bành Nghệ Vân, trước mặt mọi người nói với cô ấy rằng:
“Con thấy chưa, con tranh luận với ta mất hai tiếng, nhưng mà tôi vẫn quyết định nhận con.
你知道为什么吗?
我喜欢你的真诚和坦白,也欣赏你的勇气。
Nǐ zhīdào wèishéme ma?
Wǒ xǐhuān nǐ de zhēnchéng hé tǎnbái, yě xīnshǎng nǐ de yǒngqì.
Con biết tại sao không?
Ta thích sự chân thành và thẳng thắn của con, cũng thích cái lòng can đảm của con.
我要你做我的研究生,是让你在我的支持下,尽情地反对我的理论。
Wǒ yào nǐ zuò wǒ de yánjiūshēng, shì ràng nǐ zài wǒ de zhīchí xià, jìnqíng de fǎnduì wǒ de lǐlùn.
Ta muốn con làm nghiên cứu sinh của ta, là muốn con dưới sự ủng hộ của ta, tha hồ phản đối lý thuyết của ta.
如果事实证明你是错的,我当然会高兴;
Rúguǒ shìshí zhèngmíng nǐ shì cuò de, wǒ dāngrán huì gāoxìng;
Nếu sự thật chứng minh con sai, thì ta đương nhiên sẽ rất vui,
要是我们俩都对,我更高兴;
Yàoshi wǒmen liǎ dōu duì, wǒ gèng gāoxìng;
còn nếu như hai chúng ta đều đúng, ta còn vui hơn:
要是你是对的,我是错的,哈!
Yàoshi nǐ shì duì de, wǒ shì cuò de, hā!
Còn nếu như con đúng, mà ta sai, ha ha!
你想象不到我将会多么高兴!
Nǐ xiǎngxiàng bù dào wǒ jiāng huì duōme gāoxìng!
Thì con sẽ không tưởng tượng được thì ta vui biết nhường nào!
不错,你还没有出生时,我就是一个心理学家了,可我希望到我死的时候,你能成为比我更好的、更优秀的心理学家。
Bùcuò, nǐ hái méiyǒu chūshēng shí, wǒ jiùshì yī ge xīnlǐ xué jiāle, kě wǒ xīwàng dào wǒ sǐ de shíhòu, nǐ néng chéngwéi bǐ wǒ gèng hǎo de, gèng yōuxiù de xīnlǐ xué jiā.
Đúng vậy, lúc con chưa chào đời, thì ta đã là nhà tâm lý học rồi, nhưng mà ta mong sau khi ta mất, con có thể trở thành nhà tâm lý học giỏi hơn và ưu tú hơn ta.
只有这样,世界才有希望。”
Zhǐyǒu zhèyàng, shìjiè cái yǒu xīwàng.”
Chỉ có như vậy, thế giới mới có hi vọng.
彭艺云被深深地感动了。
Péngyìyún bèi shēn shēn de gǎndòngle.
Bành Nghệ Vân rất cảm động.
她终于实现了自己的愿望,作为阿加尔教授的博士研究生,走进了她向往已久的牛津大学。
Tā zhōngyú shíxiànle zìjǐ de yuànwàng, zuòwéi ā jiā’ěr jiàoshòu de bóshì yánjiūshēng, zǒu jìnle tā xiàngwǎng yǐ jiǔ de niújīn dàxué.
Cuối cùng cô ấy đã thực hiện được ước mơ của mình, làm nghiên cứu sinh tiến sĩ của giáo sư Archer, rồi bước vào trường đại học Oxford mà cô ấy hằng mong bấy lâu nay.

Miànshì
Phỏng vấn
考试是单独面试。
Kǎoshì shì dāndú miànshì.
Cuộc thi là từng người từng người phỏng vấn.
我一走进小会客厅,坐在正中沙发上的一个老外便站了起来,我认出来了,他就是贝克先生,公司招聘广告上有他的照片。
Wǒ yī zǒu jìn xiǎo huì kètīng, zuò zài zhèngzhòng shāfā shàng de yīgè lǎowài biàn zhànle qǐlái, wǒ rèn chūláile, tā jiùshì bèikè xiānshēng, gōngsī zhāopìn guǎnggào shàng yǒu tā de zhàopiàn.
Tôi vừa bước vào phòng tiếp khách nhỏ, có một người nước ngoài ngồi ở giữa ghế sofa liền đứng dậy, tôi nhận ra, ông ấy chính là Bối Khắc tiên sinh, trên trang quảng cáo tuyển dụng của công ty có ảnh của ông ấy.
“是你?!
你就是……?”
“Shì nǐ?! Nǐ jiùshì……?”
“Là cậu?!
Cậu chính là ….?”
贝克先生用流利的中文说出了我的名字,并且快步走到我的面前,紧紧握住我的手。
Bèikè xiānshēng yòng liúlì de zhōngwén shuō chūle wǒ de míngzì, bìngqiě kuài bù zǒu dào wǒ de miànqián, jǐn jǐn wò zhù wǒ de shǒu.
Bối Khắc tiên sinh đọc tên tôi bằng giọng tiếng Trung lưu loát, đồng thời nhanh bước đi đến trước mặt tôi, nắm chặt tay tôi.
“原来是你!
我找你找了很长时间了。”
“Yuánlái shì nǐ!
Wǒ zhǎo nǐ zhǎole hěn cháng shíjiānle.”
“Hóa ra là cậu!
Tôi tìm cậu rất lâu rồi.”
贝克先生一脸的惊喜,激动地转过身对在座的另几位考官说道:
“先生们,我给你们介绍一下,这位就是救我女儿的那位年轻人。”
Bèikè xiānshēng yī liǎn de jīngxǐ, jīdòng de zhuǎnguò shēn duì zàizuò de lìng jǐ wèi kǎoguān shuōdao:
“Xiānshēngmen, wǒ gěi nǐmen jièshào yīxià, zhè wèi jiùshì jiù wǒ nǚ’ér dì nà wèi niánqīng rén.”
Vẻ mặt của Bối Khắc tiên sinh tỏ ra cái niềm vui bất ngờ,  quay người lại nói với mấy vị giám khảo khác đang có mặt ở đấy một cách rất xúc động:
“Thưa các ông, tôi xin giới thiệu với mọi người một chút ạ, vị này chính là người thanh niên đã cứu con gái tôi.”
我的心狂跳起来,还没等我说话,贝克先生就把我拉到他旁边的沙发上坐下,说道:
“我划船的技术太差了,不小心把女儿掉进了昆明湖里,要不是你就麻烦了。
Wǒ de xīn kuáng tiào qǐlái, hái méi děng wǒ shuōhuà, bèikè xiānshēng jiù bǎ wǒ lā dào tā pángbiān de shāfā shàng zuò xià, shuōdao:
“Wǒ huá chuán de jìshù tài chàle, bù xiǎoxīn bǎ nǚ’ér diào jìnle kūnmíng hú lǐ, yào bùshì nǐ jiù máfanle.
Lòng tôi bối rối hẳn lên, còn chưa đợi tôi nói, Bối Khắc tiên sinh liền kéo tôi ngồi xuống ghế sofa cạnh ông ấy, nói rằng:
“Kỹ năng chèo thuyền của tôi quá kém, không cẩn thận làm con gái ngã xuống hồ Côn Minh, nếu không phải là cậu thì gay to.
真抱歉,当时我只顾看女儿了,也没来得及向你道谢。”
Zhēn bàoqiàn, dāngshí wǒ zhǐgù kàn nǚ’érle, yě méi láidéjí xiàng nǐ dàoxiè.”
Thành thật xin lỗi, lúc đó tôi chỉ lo về con gái, cũng chưa kịp nói lời cảm ơn cậu.”
我努力抑制住心跳,认真地说:
“贝克先生,您是不是搞错了。
Wǒ nǔlì yìzhì zhù xīntiào, rènzhēn de shuō:
“Bèikè xiānshēng, nín shì bùshì gǎo cuòle.
Tôi cố gắng kiềm chế để cho mình bình tĩnh lại, rất nghiêm túc nói rằng:
“Bối Khắc tiên sinh, liệu ngài có nhầm người không.
我以前从未见过您,更没救过您的女儿。”
Wǒ yǐqián cóng wèi jiànguò nín, gèng méi jiùguò nín de nǚ’ér.”
Tôi từ trước đến giờ chưa gặp ngài bao giờ, hơn nữa chưa từng cứu con gái ngài bao giờ.”
贝克先生又拉住我说:
“你忘记了?
四月二日,颐和园昆明湖上……肯定是你!
我记得你脸上这颗痣。
年轻人,你骗不了我的。”
Bèikè xiānshēng yòu lā zhù wǒ shuō:
“Nǐ wàngjìle?
Sì yuè èr rì, yíhéyuán kūnmíng húshàng……kěndìng shì nǐ!
Wǒ jìdé nǐ liǎn shàng zhè kē zhì.
Niánqīng rén, nǐ piàn bùliǎo wǒ de.”
Bối Khắc tiên sinh lại cầm tay tôi nói rằng:
“Cậu quên rồi à?
Ngày mùng hai tháng tư dương lịch, ở hồ Côn Minh trong Di Hòa Viên …. chắc chắn là cậu!
Tôi còn nhớ nốt ruồi trên mặt của cậu.
Anh bạn trẻ, cậu không lừa được tôi đâu.”
贝克先生一脸的得意。
Bèikè xiānshēng yī liǎn de déyì.
Vẻ mặt của Bối Khắc tiên sinh rất hả hê.
我站起来:
“贝克先生,我想您肯定认错人了,我真的没救过您女儿。”
Wǒ zhàn qǐlái:
“Bèikè xiānshēng, wǒ xiǎng nín kěndìng rèncuò rénle, wǒ zhēn de méi jiùguò nín nǚ’ér.”
Tôi đứng dậy:
“Thưa ngài Bối Khắc tiên sinh, tôi nghĩ là ngài chắc chắn nhận nhầm người rồi, thật sự tôi chưa từng cứu con gái ngài bao giờ.”
我说得很坚决,贝克先生一时愣住了。
Wǒ shuō dé hěn jiānjué, bèikè xiānshēng yīshí lèng zhùle.
Tôi nói rất kiên quyết, Bối Khắc tiên sinh chợt sững người lại.
忽然,他又笑了,“年轻人,我欣赏你的诚实,好,你被录取了。”
Hūrán, tā yòu xiàole,“niánqīng rén, wǒ xīnshǎng nǐ de chéngshí, hǎo, nǐ bèi lùqǔle.”
Bỗng dưng, ông ấy lại cười lên, “Anh bạn trẻ, tôi thích sự thành thật của cậu, Ok, cậu đã trúng tuyển.”
这时,我站起来说:
“谢谢您的赏识。
不过,对不起,我不欣赏您这样的面试,因为,这显然是在蒙人。
所以,我不想到贵公司工作了。”
Zhè shí, wǒ zhàn qǐlái shuō:“Xièxiè nín de shǎngshì. Bùguò, duìbùqǐ, wǒ bù xīnshǎng nín zhèyàng de miànshì, yīnwèi, zhè xiǎnrán shì zài méng rén.
Suǒyǐ, wǒ bù xiǎngdào guì gōngsī gōngzuòle.”
Lúc này, tôi đứng dậy nói:
“Cảm ơn những lời khen của ông.
Nhưng, xin lỗi ông, tôi không thích cái kiểu phỏng vấn này của ngài, bởi vì, đây rõ ràng đang bẫy người ta.
Cho nên, tôi không muốn đến làm việc ở quý công ty nữa.
说完,我走出了会客厅。
Shuō wán, wǒ zǒuchūle huì kètīng.
Nói xong, tôi bước ra khỏi phòng tiếp khách.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*