Thủy pháp _ Tiêu vong thủy

PHƯƠNG VỊ TIÊN HẬU THIÊN BÁT QUÁI

Phương vịĐôngNamTâyBắcĐông NamĐông BắcTây NamTây Bắc
Tiên thiênLyCànKhảmKhônĐoàiChấnTốnCấn
Hậu thiênChấnLyĐoàiKhảmTốnCấnKhônCàn

1. VONG THUỶ TIÊU THỦY.

Nghĩa là thuỷ đến tại Hậu thiên, thuỷ đi tại Tiên thiên, gọi là “Hậu thiên phá Tiên thiên”.

Hay nói dễ hiểu hơn, là nước đến cung vào Hậu thiên, mà ra cung đó Tiên thiên là phạm, cụ thể:

Nước Càn (Tây Bắc) chảy đi tại Ly (Nam),

Nước Khôn (Tây Nam) chảy đi tại Khảm (Bắc),

Nước Ly (Nam) chảy đi tại Chấn (Đông),

Nước Khảm (Bắc) chảy đi tại Đoài (Tây),

Nước Đoài (Tây) chảy đi tại Tốn (Đông Nam),

Nước Chấn (Đông) chảy đi tại Cấn (Đông Bắc),

Nước Tốn (ĐôngNam) chảy đi tại Khôn (Tây Nam),

Nước Cấn (Đông Bắc) chảy đi tại Càn (Tây Bắc)

Phàm là Tiên thiên chảy phá Hậu thiên đều gọi là “tiêu”,

Hậu thiên chảy phá Tiên thiên gọi là “vong”,

nếu phương vị Tiên Hậu thiên chảy phá lẫn nhau gọi là nước “tiêu vong bại tuyệt”.

Nếu gặp nước tiêu vong lại kiêm long huyệt không tốt, nhân khẩu và tiền tài gia chủ đều bại.

Trong hình vòng trong là Tiên thiên bát quái (nhìn từ ngoài vào trong), vòng giữa là Hậu thiên bát quái, vòng ngoài là 24 sơn.

Tiên Hậu thiên bát quái trong La bàn Chuyên gia Phong thủy

Tiên Hậu thiên bát quái đều dùng vào việc xác định cát hung thuỷ pháp, nhưng khi ứng dụng cần phải phối hợp sử dụng cả hai.

Đầu tiên phải nắm được nước Tiên thiên quản nhân đinh, nước ở Hậu thiên quản thê tài.

Cần nhớ, khi ứng dụng, nước đến Tiên thiên bát quái không được chảy vào Hậu thiên, nước đến Tiên thiên bát quái chảy vào Hậu thiên là “Tiên thiên phá Hậu thiên”, gọi là “tiêu thuỷ”,

Nếu phạm phải chủ về khắc thê tổn tài, sự nghiệp gia đình dần suy yếu lụn bại.

Nước đến Hậu thiên bát quái chảy về Tiên thiên, là “Hậu thiên phá Tiên thiên”, gọi là “vong thuỷ”, nếu phạm phải chủ về nhân đinh tuyệt.

Bất kể là âm trạch hay dương trạch, gặp phải trường họp nước Tiên thiên phá Hậu thiên hoặc nước Hậu thiên phá Tiên thiên, gọi là “tiêu vong bại tuyệt thuỷ”, phạm phải chủ đinh tài đều bại, thậm chí đời sau tuyệt tự.

  1. Ví dụ,

Nhà bạn toạ Bắc hướng Nam Khảm trạch, đầu tiên phải biết quẻ Khảm Tiên thiên ở Đoài vị, Hậu thiên ở Khôn vị,

Nếu hướng Đoài có nước chảy về Khôn vị, gọi là Tiên thiên chảy phá Hậu thiên, tức “tiêu thuỷ”,

nếu hướng Khôn có nước chảy về hướng Đoài là “vong thuỷ”,

thấy nước ở hướng Đoài hoặc hướng Khôn chảy phá lẫn nhau, gọi là nước “tiêu vong bại tuyệt”,

phạm phải chủ về phụ nữ bị tai nạn mất máu,

chảy phá Hậu thiên chủ về nhiều bệnh,

chảy phá Tiên thiên chủ tổn hại nhân khẩu,

những chuyện xấu này phần lớn không có lợi cho chi trưởng.

Hoặc ví dụ ở trong căn nhà là Đoài trạch, Dậu sơn Mão hướng, toạ Tây hướng Đông,

phải biết quẻ Đoài Tiên thiên ở Tốn vị, Hậu thiên ở Khảm,

nếu hướng Tốn nước đến, chảy qua trước nhà chảy vào Khảm vị, gọi là Tiên thiên chảy phá Hậu thiên, nước này gọi là “tiêu”.

Hoặc hướng Khảm nước đến chảy qua trước nhà chảy vào Tốn vị, gọi là Hậu thiên chảy phá Tiên thiên, là “vong”.

Gặp Tiên thiên phá vỡ Hậu thiên, và Hậu thiên phá vỡ Tiên thiên, đều gọi chung là “tiêu vong bại tuyệt thuỷ”.

Người xưa có bài ca rằng: “Lưu phá Tiên thiên nhân đinh hại, lưu phá Hậu thiên đoạn tư tài, tái kiến thiên kiếp lai xung phá, gia nhân đa bệnh bất ly tai”,

Trong đó, sợ nhất là tiêu vong bại tuyệt lại gặp phương Thiên kiếp nước đến phá vỡ, phạm phải đã tệ càng tệ thêm, việc xấu thi nhau xảy đến.

Mỗi khi đến một nơi, đầu tiên phải xem có phạm tiêu vong bại tuyệt thuỷ hay không, nếu phạm phải mau chóng bảo chủ nhà nên làm thế nào để đề phòng, sau đó mới tiến hành bước tiếp theo.

Đối với nhà nghiên cứu phong thuỷ, trong khảo sát thực địa cần phải ghi nhớ thuộc lòng vị trí cụ thể của Tiên thiên bát quái và Hậu thiên bát quái,

sau đó xem nước đến và đi, rồi mới tìm hiểu về phương vị cụ thể của nhà này, để có thể tiến hành tiếp công việc được.

2. NƯỚC THIÊN KIẾP, ĐỊA HÌNH

  • Bản chất về vị trí Thiên kiếp, Địa hình

Vị trí Thiên kiếp Địa hình bắt buộc phải ở hai bên trái phải phía trước tọa sơn, có nghĩa là từ tọa sơn lùi ra hai bên phía hướng, một cái bên trái một cái bên phải, có thể hình dung như hai trạm gác tiền tiêu hai bên.

Cách tính toán cụ thể là, xem tọa sơn thuộc quẻ gì, sau đó xem Hậu thiên bát quái thuộc quẻ gì Tiên thiên, xem tiếp vị trí Hậu thiên quẻ này ra vị trí Thiên kiếp.

Càn Khảm cấn Đoài là quẻ dương, Thiên kiếp ở bên trái, Địa hình ở bên phải.

Chấn Tốn Khôn Ly thuộc âm, Thiên kiếp bên phải, Địa hình bên trái.

Cụ thể:

Nhà tọa Càn (Tuất Càn Hợi), Càn Hậu thiên ở cấn, Cấn Hậu thiên ở Chấn Tiên thiên, nên tọa Càn có Chấn (Giáp Mão Ất) là vị trí Thiên kiếp.

Chấn ở bên trái phía trước trạch Càn, bên phải sẽ là Ly nên Ly (Bính Ngọ Đinh) là Địa hình.

Nhà tọa Khảm (Nhâm Tý Quý), Khảm Hậu thiên ở Khôn, Khôn Hậu thiên ở Tốn Tiên thiên, nên tọa Khảm có Tốn (Thìn Tốn Tỵ) là vị trí Thiên kiếp.

Tốn ở bên trái phía trước trạch Khảm, bên phải sẽ là Khôn nên Khôn (Mùi Khôn Thân) là Địa hình.

Nhà tọa Cấn, cấn Hậu thiên ở Chấn, Chấn Hậu thiên ở Ly Tiên thiên, nên tọa Cân có Ly (Bính Ngọ Đinh) là vị trí Thiên kiếp.

Ly ở bên trái phía trước trạch cấn, bên phải sẽ là Đoài nên Đoài là Địa hình.

Nhà tọa Chấn, Chấn Hậu thiên ở Ly, Ly Hậu thiên ở Càn Tiên thiên, nên tọa Chấn có Càn (Tuất Càn Hợi) là vị trí Thiên kiếp.

Càn ở bên phải phía trước trạch Chấn, bên trái sẽ là Khôn nên Khôn là Địa hình.

Nhà tọa Tốn, Tốn Hậu thiên ở Đoài, Đoài Hậu thiên ở Khảm Tiên thiên, nên tọa Tốn có Khảm (Nhâm Tý Quý) là vị trí Thiên kiếp.

Khảm ở bên phải phía trước trạch Tốn, bên trái sẽ là Đoài nên Đoài là Địa hình.

Nhà tọa Ly, Ly Hậu thiên ở Càn, Càn Hậu thiên ở cấn Tiên thiên, nên tọa Ly có cấn (Sửu cấn Dần) là vị trí Thiên kiếp.

Cấn ở bên phải phía trước trạch Ly, bên trái sẽ là Càn nên Càn là Địa hình.

Nhà tọa Khôn, Khôn Hậu thiên ở Tốn, Tốn Hậu thiên ở Đoài Tiên thiên, nên tọa Khôn có Đoài là vị trí Thiên kiếp.

Nhưng Đoài lại không ở hai bên trái phải phía trước của trạch Khôn, mà là Chấn Khảm, do đó người ta phân chia Chấn là Thiên kiếp, Khảm là Địa hình.

Nhà tọa Đoài, Đoài Hậu thiên ở Khảm, Khảm Hậu thiên ở Khôn Tiên thiên, nên tọa Đoài có Khôn là vị trí Thiên kiếp.

Nhưng Khôn lại không ở hai bên trái phải phía trước của trạch Đoài, mà là cấn Tốn, do đó người ta phân chia cấn là Thiên kiếp, Tốn là Địa hình.

Theo đó ta có bảng sau

TọaCànKhảmCấnChấnTốnLyKhônĐoài
Thiên kiếpChấnTốnLyCànKhảmCấnChấnCấn
Địa hìnhLyKhônĐoàiKhônĐoàiCànKhảmTốn

Tác dụng của Thiên kiếp, Địa hình

Nước phương Thiên kiếp chỉ được ra không được vào,

nếu nước đến càng lớn càng chảy xiết thì nguy hại càng lớn.

Phương Thiên kiếp cũng không nên có công trình kiến trúc cao to, như cây to, cột điện, thác nước, góc nhọn mái nhà, đường đâm, biển quảng cáo.

Nếu phạm phải nhà có người ốm đau triền miên.

Nơi này nên tĩnh không nên động, nếu xe cộ đi lại ầm ầm suốt ngày hay nước đến như réo không ngừng, sẽ có bệnh đau đầu, bệnh dịch, nôn ra máu, bại liệt, thậm chí tuyệt tử tuyệt tông.

Nước Địa hình còn gọi là nước “bổ dược”, chỉ việc phụ nữ thành niên trong nhà liên tục phải uống thuốc, cũng như dễ gặp kiện tụng thị phi, kiếm được bao nhiêu tiền cũng để dùng mua thuốc chạy chữa.

Nếu phương này có xung sát thì việc xấu càng dễ xảy ra.

Dự báo còn tùy theo từng quẻ, như trạch Khảm Địa hình ở Khôn, Khôn là mẹ, nếu ở đây có sát khí chiếu vào, người mẹ dễ bị bệnh về hệ thống tiết niệu.

Nói tóm lại nước Thiên kiếp, Địa hình ở hai bên phía trước của công trình kiến trúc, cũng như hai hung thần hai bên, lúc nào cũng có thể gây ra uy hiếp, chướng ngại đến cuộc sống.

Nước Thiên kiếp chỉ nên đi không nên đến, nước đến không chỉ gây bệnh tật, mà còn tổn thương, tai nạn, bệnh quái lạ, lao lực, xuất huyết, tê liệt chân tay.

Nước Địa hình ngược lại, chỉ nên đến không nên đi, nước mà ra ở Địa hình, sẽ tổn hại cho vợ con hoặc phá tài, thuốc thang thường xuyên.

Nước Thiên kiếp và Địa hình mà gặp vị trí Ngũ hoàng, hoặc trường hợp tiêu vong thủy, nguy hại cũng sẽ tăng.

3. 24 SƠN VÀ THUỶ PHÁP TIÊN HẬU THIÊN

Tam sơn toạ Nhâm Tý Quý, Bính Ngọ Đinh hướng về chính cục,

cần thu nước đến hướng Canh Dậu Tân của quẻ Đoài, gọi là nước đến minh đường Tiên thiên;

lại thu nước đến ba hướng Mùi Khôn Thân quẻ Khôn, gọi là thu nước đến minh đường Hậu thiên,

Tiên thiên thuỷ quản nhân đinh, nếu nước ở phương Đoài từ hướng xa đến, lại đi được xa chủ về việc sẽ xuất hiện con cháu hiền hiếu;

Hậu thiên thuỷ quản tài, nếu nước của nó từ hướng Khôn ở phía xa đi tới, lại đi được xa thì chủ về phát tài.

Đây cũng là nước vượng cả đinh và tài.

Nếu nước chảy ra từ ba hướng Mùi Khôn Thân, lão mẫu bị tổn hại, hoặc người không thành tài,

nếu nước chảy ra từ ba hướng Tuất Càn Hợi, chủ lụn bại tổn tài.

Toạ Sửu Cấn Dần sơn, hướng Mùi Khôn Thân,

cần thu nước đến phương Tuất Càn Hợi quẻ Càn, gọi là thu nước Tiên thiên triều đường (về nhà);

lại thu nước đến hướng Giáp Mão Ất của quẻ Chấn, gọi là thu nước Hậu thiên về nhà,

nếu nước ở hai phương này đến được dài đi được xa là nước vượng đinh vượng tài.

Nếu nước chảy ra từ phương Tuất Càn Hợi, gọi là chảy phá Tiên thiên, chủ tổn hại đến người đàn ông già hoặc mất đàn ông trong nhà,

nếu nước chảy ra từ phương Giáp Mão Ất, gọi là chảy phá Hậu thiên, chủ tổn hại trưởng nam, lại phá hoại nặng nề.

Toạ tam sơn Mùi Khôn Thân, hướng Sửu cấn Dần,

cần thu nước đến phương Nhâm Tý Quý của quẻ Khảm, gọi là thu nước Tiên thiên về nhà;

lại thu nước phương Thìn Tốn Tỵ quẻ Tốn đến, gọi là thu nước Hậu thiên về nhà,

nước hai phương này đến được dài đi được xa chủ về cách cục vượng cả đinh cả tài.

Nếu nước chảy ra từ phương hướng Nhâm Tý Quý, gọi là chảy phá Tiên thiên, chủ tổn hại con trai thứ;

Nếu nước chảy ra từ ba phương Thìn Tốn Tỵ, gọi là chảy phá Hậu thiên, chủ tổn thương trưởng nữ mà lại phá hoại nặng nề.

Toạ sơn Giáp Mão Ất, hướng Canh Dậu Tân,

cần thu nước đến phương Sửu Cấn Dần cung cấn, gọi là thu nước Tiên thiên đến nhà,

lại thu nước đến phương Bính Ngọ Đinh, gọi là thu nước Hậu thiên đến nhà.

Nước phương này đến dài đi xa, chủ vượng đinh vượng tài.

Nếu nước chảy đi về phương Sửu Cấn Dần của quẻ cấn, gọi là chảy phá Tiên thiên, chủ tổn hại đến thiếu nam (Cấn là thiếu nam),

nếu nước chảy đi từ phương Bính Ngọ Đinh, gọi là chảy phá Hậu thiên, chủ tổn hại phụ nữ trung niên (Ly là trung nữ) lại chủ phá sản.

Toạ sơn Canh Dậu Tân, hướng Giáp Mão Ất,

cần thu nước đến phương Thìn Tốn Tỵ, gọi là thu nước Tiên thiên đến nhà.

Lại thu nước đến phương Nhâm Tý Quý, gọi là thu nước Hậu thiên đến nhà.

Nước ở hai phương này đến được dài đi được xa là nước vượng cả đinh lẫn tài.

Nếu nước chảy ra từ phương Thìn Tốn Tỵ, gọi là chảy phá Tiên thiên, chủ tổn hại trưởng nữ (Tốn là trưởng nữ),

nếu nước chảy ra từ phương Nhâm Tý Quý, gọi là chảy phá Hậu thiên, chủ thương tổn trung nam (Khảm là trung nam), hơn nữa chủ phá sản (Hậu thiên chủ về tài sản).

Toạ sơn Thìn Tốn Tỵ, hướng Tuất Càn Hợi,

cần thu nước đến phương Mùi Khôn Thân, gọi là thu nước Tiên thiên đến nhà.

Lại thu nước phương Canh Dậu Tân đến, gọi là thu nước Hậu thiên đến nhà.

Nguồn nước của hai phương này đến được dài đi được xa, chủ vượng đinh vượng tài.

Nếu nước chảy đi từ phương Mùi Khôn Thân gọi là chảy phá Tiên thiên, chủ về tổn hại phụ nữ cao tuổi (Khôn là mẹ già);

nếu nước chảy đi từ phương Canh Dậu Tân, gọi là chảy phá Hậu thiên, chủ tổn hại thiếu nữ (Đoài là thiếu nữ), đồng thời chủ phá sản.

Toạ sơn Tuất Càn Hợi, hướng Thìn Tốn Tỵ,

cần thu nước đến phương Bính Ngọ Đinh của quẻ Ly, gọi là thu nước Tiên thiên đến nhà.

Lại thu nước đến phương Sửu cấn Dần, gọi là thu nước Hậu thiên đến nhà.

Nguồn nước hai hướng này đến được dài đi được xa, chủ về nước đinh tài đều vượng.

Nếu nước chảy đi từ Bính Ngọ Đinh, gọi là chảy phá Tiên thiên, chủ tổn hại trung nữ (Ly là phụ nữ trung niẽn).

Nếu nước chảy đi từ phương Sửu Cấn Dần, gọi là chảy phá Hậu thiên, chủ tổn hại thiếu nam (Cấn là thiếu nam), đồng thời chủ phá tài.

Tóm lại, thu nước Tiên thiên đến nhà chủ vượng nhân đinh,

nếu nguồn nước Tiên thiên đến được dài đi được xa, chủ về vượng nhân đinh, khách hàng tăng lên.

Nếu nước chảy ra ở phương vị Tiên thiên, chủ nhân đinh bại tuyệt, nhà máy không giữ được nhân công, nguồn khách hàng của công ty giảm.

Nước Hậu thiên chủ về tài, nếu nguồn nước đến Hậu thiên thông suốt, chủ tiền vào như nước, việc làm ăn hưng vượng, bất kể là công ty, nhà máy hoặc làm cá nhân đều chủ về phát tài, nếu nước chảy ra từ phương vị Hậu thiên, chủ tổn đinh phá tài.

Cho nên, nước Hậu thiên đến và đi có liên quan rất lớn đối với nhân đinh và tài nguyên của người ở trong nhà, phải hết sức thận trọng.


 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *